tuan-chang-trai-dat-viet-37-38-amp-39

Tuấn, chàng trai đất Việt.


CHƯƠNG 37




1927




- Nhà tranh ba gian của cụ Phan Bội Châu ở Huế.
- Cụ Huỳnh Thúc Kháng và Báo Tiếng Dân.
- Phong trào " Nam Nữ bình quyền " của Bà Ðạm Phương ở Huế , và Nữ Sĩ Huỳnh Thị Bảo Hoà ở Tourane.

Lần đầu tiên đến Tourane, Tuấn trông thấy một nhà ga và một đoàn xe lửa . Trước mặt cậu học sinh 17 tuổi , thật là một vật đồ sộ và phi thường . Ðứng ngoài một hàng rào xi măng ngăn cách đưòng phố với đường rầy xe lửa . Tuấn nhìn trân trân những chiếc va-gông nối dài gần một trăm thước , đậu trên đường rầy với chiếc đầu máy ghê gớm với hai con mắt lớn bằng kiếng , vàng khè , và một ống khói đen ngòm , to và thấp , đang phùn phụt nhả khói .
Tuấn sung sướng nghĩ rằng sáng sớm ngày mai , Tuấn sẽ được đi trên đoàn xe lửa này , ra đến Huế . Cũng như đếm trước , đêm nay Tuấn không ngủ được , chỉ mơ tưởng đến chuyến tàu hỏa đi Huế , hoặc nhớ lại câu tiếng Pháp của thầy Trợ giáo khóc cha .
Sáng sớm hôm sau , mua vé tàu hỏa xong . Tuấn bắt chước mấy người hành khách cất kỹ tấm vé trong túi áo Tây và lấy một cái kim băng ghim túi áo lại , sợ lỡ rớt tấm vé đến khi ông Tây soát vé không có , sẽ bị ở tù .
Tuấn theo sau mấy ông hành khách , xách chiếc va li tre ra bến xe lửa . Nhưng Tuấn chưa muốn bước lên toa tàu trước khi đứng ngoài xem cho tường tận các chiếc va-gông . Tuấn đang đứng ngó đầu máy , thì một bác lính khố xanh bước đến bảo Tuấn :
- Trò đứng gần , điện nó hút cậu vô máy , chết cha !
Tuấn vội vàng đứng ra xa . Sự thực , lần đầu tiên trông thấy tàu lửa , Tuấn cũng hơi sờ sợ . Tuy ở trường đã học về Vật Lý , và đã hiểu qua loa về nguyên tắc máy chuyển động nhờ hơi nước , nhưng Khoa học là một chuyện , còn tâm lý của trẻ con sợ sệt trước một vật to tướng phi thường , máy móc chằng chịt , gớm ghê , lại là một chuyện khác .
Ðứng bên đoàn tàu dài 200 thước , với đầu máy kếch xù đang phun khói , Tuấn cảm thấy mình bé quá , thấp quá , tầm thường quá . Ði dọc theo đoàn tàu để xem qua một lượt , Tuấn để ý trên toa hạng nhất và hạng nhì chỉ toàn là ông Tây bà Ðầm , và cả trẻ con Tây . Không có một người An nam mít nào ở hai toa này . Toa hạng ba , cũng có vài ông Tây và các ông An nam sang trọng giàu có .Tuấn đứng xem có ông Tây Thương Chính ôm cặp bước vào hạng ba . Một ông quan An nam đeo bài ngà “ Tri Huyện “ tòn ten trước ngực , đang ngồi chễm chệ trên chiếc ghế dài bọc da , vội vàng đứng dậy chấp hai tay :
- Chào Quan Lớn .
Ông Tây Thương Chính gật đầu rôì đi thẳng qua toa hạng nhì . Người lính hầu của Quan Huyện đang đứng chực ở cửa toa thứ tư. Quan Huyện khệ nệ bước ra , hỏi bằng giọng Huế :
- Thằng Ba mô rồi ?
Người lính kính cẩn đáp :
- Dạ , bẩm quan lớn …
- Ðem bình điếu thuốc trà cho tao hút , mi !
- Dạ.
Người lính lệ ( lính hầu các quan ) , rất lanh lẹ bưng bình điếu sang toa hạng ba , cúi xuống nhét cục thuốc lào vào miệng điếu rồi đánh một que diêm châm lửa cho quan huyện hút . Xong người lính lệ lại bưng cái điếu xuống đứng chỗ cửa hạng tư .
Tuấn xách va-li tre bước lên toa hạng tư . Vì cửa chật và đồ hành lý của hành khách chồng chất ngay đấy Tuấn phải nhảy qua đống hành lý , vô tình để chiếc va li đụng phải chưn chú lính lệ .
Chú này trợn mắt mắng Tuấn :
- Trò này không coi trước coi sau gì hết .
- Tại chỗ cửa chật quá , chớ phải tại tôi đâu .
- Chật cậu cũng phải tránh tôi chứ .
- Thôi mà lỡ một chút , cứ kiếm chuyện hoài .
Người lính tập nổi giận quát Tuấn :
- Mày không biết tao là ai à ?
Tuấn không cãi lẫy lôi thôi , làm thinh bước qua đống hành lý để kiếm chỗ ngồi .
Ðối với chàng trai Việt Nam năm 1927, Huế là một thần tượng bao trùm bao nhiêu huyền bí , thiêng liêng …Những danh từ “Ðât Thần Kinh “ , “Ðế Ðô “ , “ Kinh Ðô “ , v.v… có một sức hấp dẫn phi thường làm xúc động mãnh liệt trí tưởng tượng của những kẻ ở tỉnh và ở thôn quê .
Ai được đi Huế một lần , được dịp viếng đất Thần Kinh , được trông thấy Ðế Ðô , là một hãnh diện lớn lao vô cùng . Những kẻ chưa được thấy Huế, hằng mơ tưởng đấy là kinh thành , là nơi Vua ở , những cung điện nguy nga , những lâu đài tráng lệ , những nàng Công Chúa đẹp như tiên đi thướt tha trong vườn Thượng Uyển …Xem trong sách diễn tả , hoặc nghe người ta nói rất nhiều về những thắng cảnh của Ðế Ðô : cầu Trường Tiền , cầu Bạch Hổ , cửa Thượng Tứ , chợ Ðông Ba , hồ Tỉnh Tâm , cửa Gia Hội , dòng Hương giang , núi Ngự Bình …Ồ, toàn là những phong cảnh trí thơ mộng làm sao ! Lại thêm vào đấy những tên lâu đài rất …lịch sự : Ðiện Cần Chánh , điện Văn Minh , Tam Toà , Lục Bộ.. tòa Khâm Sứ , đồn Mang Cá , đền Nam Giao , chùa Thiên Mụ , chùa Diệu Ðế , và lăng tẩm các Vua …cung điện của ông Hoàng bà Chúa .
Tóm lại , Huế , nơi Ðế Ðô , thiêng liêng , oai vệ , không giống một nơi nào phàm tục trong xứ , và cuộc sống của người Huế , những người ưu tiên được ở đất Thần Kinh không giống như các tỉnh Trung Nam , Bắc , Saigon , Hà nội có rộng lớn , xinh đẹp bao nhiêu đi nữa cũng chỉ là những đô thị thường dân , duy chỉ có Huế là Kinh Ðô của các vị Hoàng đế .
Nhưng chàng trai 17 tuổi lần đầu tiên được đi hỏa xa sung sướng được sắp sửa đặt chân lên đất Ðế Ðô , và tha hồ được ngắm những cảnh thần tiên thơ mộng của núi Ngự sông Hương .
Ngồi trên xe lửa Tuấn tưởng tượng đến Huế ẽ được xem sông Hương nên thơ như thế nào , núi Ngự oai linh như thế nào và cả đất thần kinh của Vua Chúa có sắc thái đặc biệt như thế nào .
Và nhất là Huế lại có túp nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự.
Nghĩ đến tất cả những kỳ thú trên Tuấn thấy rạo rực trong lòng . Trái tim của Tuấn đập rộn rịp như tiếng xe lửa chạy rầm rộ trên đường rầy . Tuấn nóng lòng chờ đến Huế, mà xem chừng như chuyến xe lửa cũng cố chạy vùn vụt cho mau đến Huế.
Ðoàn xe đến ga lúc 8 giờ tối . Chữ Huế nét đậm và to lớn , ghi bằng mực đen trên mặt tiền nhà ga .
Tuấn xách chiếc va li tre của chàng theo sau những hành khách xuống Huế . Chàng để ý thấy hầu hết những hành khách đều có người nhà hoặc bạn hữu chờ nơi sân ga và rộn rịp vui mừng , kẻ đón người đưa . Tuấn đi thui thủi một mình tìm nhà trọ của một người bạn ở xóm ga, theo địa chỉ đã có .
Tuấn để ý thấy trên đường Jules Ferry từ trước sân ga đa số người đàn ông ớn tuổi đều mặc đồ An nam aó dài đen quần trắng , đầu bit khăn hay đội mũ , chân mang giày Hạ , hay đi guốc . Phần đông bạn trẻ mặc đồ Tây . Tuấn cũng mặc âu phục may bằng vải nội hóa Quảng Nam , nhưng hình như không mấy ai để ý . Hơn nữa , Tuấn vui mừng nhận thấy những chàng thanh niên Huế trông dáng điệu có vẻ học sinh như Tuấn , cũng mặc đồ Tây bằng vải nội hóa . Tuấn vừa đi vừa nghĩ rằng : thì ra phong trào mặc âu phục bằng vải nội hóa quả thật đã lan tràn khắp cả học đường , ở Huế cũng như ở Qui Nhơn . Ðó là một nhận xét đầu tiên lúc Tuấn bước chân trên đường phố kinh đô .
Tuấn ở trọ nhà Quỳnh bạn học cũ ở Qui Nhơn , người cùng Tuấn đã gây ra cuộc bãi khóa ở Qui Nhơn một năm trước , và cũng bị đuổi như Tuấn . Quỳnh bây giờ học lớp Ðệ Tứ Niên tư thục Pellerin của các vị Cố Ðạo Huế . Quỳnh vẫn mặc bộ đồ tây may ở Qui Nhơn .
Bây giờ sáng hôm sau , nhân ngày chủ nhật , Tuấn nhờ Quỳnh đưa Tuấn đến thăm cụ Phan Bội Châu , Quỳnh bảo :
- Nhà cụ Phan ở Bến Ngự gần đây . Hai đứa mình đến thăm cụ thế nào cũng có mật thám theo dõi , rình mò . Mầy dám đến không ?
Tuấn hỏi :
- Vậy chớ tụi mầy ở Huế thường ngày không đến thăm cụ sao ?
- Thỉnh thoảng mới đến mà tụi tao phải rủ nhau đi một lượt bốn năm đứa để cho lính mã tà và bọn điềm chỉ ít nghi ngờ . Mầy muốn tao rủ thêm vài ba thằng bạn nữa đi với tụi mình cho vui không ?
- Thôi không cần , hai đứa mình đi đến thăm cụ , chớ có làm gì mà sợ .
Ði một đoạn đường ngắn lên một dốc khá cao , đường đất đỏ nhiều bụi chưa tráng nhựa - Quỳnh chỉ một nép nhà ở ngay cuối đường :
-Nhà cụ Phan đấy .
Tuấn trông thấy trước hết một chiếc cổng sơ sài bằng hai trụ gỗ , trên đóng ngang một tấm bảng để một dòng chữ đen :
Nhà đọc sách Phan Bội Châu .
Chiếc cổng dựng ngay giữa một hàng rào cây , và luôn luôn mở rộng . Không do dự, Quỳnh và Tuấn bước vào , đi rón rén , giữ lễ phép , qua một sân hẹp rồi bước lên thềm nhà tô xi măng . Nhà có ba gian rộng rãi , để trống . Tuấn hồi hộp tưởng sắp sửa được trông thấy cụ Phan . Nhưng cảnh nhà thanh vắng , không một tiếng động . Tuấn và Quỳnh đứng yên trên thềm , đợi xem có ai ra thì xin yết kiến Cụ .
Một lát , một em bé học trò độ 7 tuổi , đầu cạo trọc chừa một chỏm tóc ở giữa , từ ngoài chạy vào , nét mặt ngây thơ , nói với hai cậu học trò , bằng giọng Nghệ An :
- Cụ bán gạo ở ngoài nớ .
Bé chỉ một gian hàng gạo rất sơ sài ở góc sân , một cái chòi thì đúng hơn , lợp bằng tranh . Một cụ già mặc áo dài màu nâu , đang đứng bán vài lon gạo cho các chị nhà nghèo . Em bé chạy ra thưa với cụ một vài lời gì đó . Cụ cười giao thúng cho bé trông nom , và chống ba toong đi thủng thỉnh vào nhà . Tim Tuấn đập mạnh .Tuấn được chiêm ngưỡng lần đầu tiên nhà Chí sĩ Phan Bội Châu , với một chòm râu phong phú , mắt đeo kính trắng , vòm trán cao vút tận đỉnh đầu . Cụ bước đi thư thả , tay mặt chóng ba toon – cây ba toong của toàn quyền Varenne tặng cụ -- tay trái hơi cong , bàn tay lấp dưới tà áo nâu dài .
Cụ mặc quần trắng bằng vải nội hóa , mang đôi dép da . Trông cụ không khác nào một vị Tiên lão da mặt hồng hào , đang bước thung dung ở dưới bóng cây . Cụ bước lên thềm ngó hai cậu học trò . Tuấn và Quỳnh chấp hai tay trước ngực , cúi đầu chào cung kính . Cụ cười rất tự nhiên , rất hiền lành , đưa tay chỉ gian nhà giữa :
- Mời hai cậu vào .
Tuấn và Quỳnh đợi cụ Phan vào trước , và theo sau cụ . Sau khi mời ngồi , cụ hỏi :
- Hai cậu học ở trường Quốc Học ?
Tuấn đáp :
- Dạ thưa Cụ , con ở xa mới tới Huế lần đầu tiên , đến hầu thăm Cụ . Thấy Cụ được khỏe mạnh con rất mừng .
Cụ hỏi Quỳnh :
- Còn cậu nì ?
- Thưa cụ , con học trường Pellerin .
Cụ còn hỏi han nhiều câu về việc học và gia đình của hai cậu học trò , rồi cụ nghiêm trang dạy bảo nhiều lời giáo huấn , về lòng yêu nước yêu dân . Cụ gọi người nhà lấy ra hai quyển sách mỏng do cụ soạn , nhan đề Nam Quốc Dân tu tri và Nữ Quốc Dân tu tri . Cụ trao cho hai đứa hai quyển và bảo :
- Các anh chị Nam Nữ Quốc Dân nên xem hai quyển sách nhỏ này để trở thành người Quốc Gia .
Sau một lúc nói chuyện lâu trên một tiếng đồng hồ , cụ thấy ngoài chòi gạo của cụ có đông đồng bào lao động đến mua gạo , cụ xin lỗi đứng dậy :
- Hai cậu ở đây chơi , một lát tôi vào .Tôi ra bán gạo , kẻo bà con cô bác chờ lâu .
Cụ Phan Bội Châu chống ba toong đi ra sân , Tuấn và Quỳnh thừa dịp , đi xem qua ba gian nhà của cụ. Một em bé hướng dẫn , bảo :
-Ba gian nhà là tượng trưng Nam Trung Bắc , cùng nhau như anh em một nhà .
Gian bên trái là phòng tắm của cụ , gian bên phải gọi là “ phòng đọc sách “ , Tuấn để ý rất kỹ hai bức tranh bằng mực đen do một bạn Nam học sinh trường Quốc học vẽ một chậu nước trong đó có bơi vài con cá . Dưới tranh , đề “ Cá chậu “ . Một bức tranh khác do một chị nữ sinh Ðồng Khánh vẽ , đề là “ Chim lồng “ .
Ra ngoài sân , nơi góc bên phải , Tuấn thấy một ngôi miếu nho nhỏ , thờ một Nữ đồng chí của cụ .
Kinh thành Huế chia ra ba khu nhà rõ rệt . Bên tả ngạn sông Hương là Thành Nội , với các Cung Ðiện nhà Vua , với Tam Tòa , Lục Bộ, tất cả ở phía trong mấy lớp thành cao . Ngoài thành là các phố buôn bán và chợ Ðông Ba . Bên kia cầu Gia Hội phần nhiều là dinh thự và nhà cửa của các quan .
Bên hữu ngạn sông Hương , nối bằng một chiếc cầu sắt khá rông tên là cầu Trường Tiền là khu Bảo Hộ Pháp với tòa Khâm Sứ và các cơ quan hành chánh của Pháp .
Ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu , ở xóm Bến Ngự , ngoài châu thành , nơi đây phần đông các nhà đều vào hạng trung lưu và bình dân . Nhà cụ Phan Bội Châu có thể gọi là tượng trưng cho tinh thần anh dũng của dân tộc , cho truyền thống bất khuất của nhân dân Việt Nam , mặc dù bị kềm hãm trong hoàn cảnh “ cá chậu , chim lồng “.
Nhà cụ lợp bằng tranh , ở giữa một xóm nhà tranh , và cao ráo khoáng đãng , tiền của đồng bào toàn quốc khắp ba kỳ , tự động đóng góp , chứng tỏ lòng nhiệt thành chiêm ngưỡng của đồng bào sùng bái cụ .
Có điều rất lạ , là không có một tờ báo nào ở Hà Nội , Huế, Saigon hô hào lạc quyên công khai , mà chỉ có truyền miệng với nhau người này bảo người kia , thế mà mọi người đều tự thấy có bổn phận gần như thiêng liêng , phải đóng góp một chút tiền với đồng bào , để gửi đi Huế tặng nhà Chiến sĩ cách mạng đã hy sinh tất cả vì Dân vì Nước.
Các nhà ái quốc ở Huế thu góp các số tiền ấy , để cất lên cho Cụ một ngôi nhà ba gian , sắm cho Cụ một chiếc thuyền nan để cụ có nơi nghỉ mát trên sông Hương và một số vốn , để cụ uống rượu , ngâm thơ , vừa cùng một chú tiểu đồng đi Thuận An buôn gạo về bán .
Cụ sống cuộc đời thanh bạch và nhàn hạ , chỉ giao du với các bạn đồng chí già , và cũng rất mến bạn trẻ , lao động , trí thức , sinh viên , học sinh ở Huế và khắp Bắc Trung Nam . Mọi người đều tôn sùng Cụ như một thần tượng chói lọi uy danh . Ba tiếng “ Phan Bội Châu “ và cả ba tiếng biệt hiệu Phan Sào Nam , gợi lên trong trí óc thanh niên hình dáng rất đáng tôn kính của một cụ già có vòm trán cao , đôi mắt sáng ngời , chòm râu tiên lão , gần như một vị thần sống của Lịch Sử Việt Nam ở đương kim thời đại .
Thế hệ thanh niên của Tuấn rất hãnh diện được một vị thần sống như thế để sùng bái, để thờ . Cho nên những bạn bè của Tuấn và Tuấn đều triệt để tuân theo những lời giáo huấn của cụ , say mê đọc các thi văn của cụ , coi những bài những sách của cụ viết ra như những lời châu ngọc .
Ðến Huế ngày đầu tiên , Tuấn đến thăm cụ Phan Bội Châu , và sau khi đã được chiêm ngưỡng dung nhan của cụ , được vinh dự hầu chuyện trên ba tiếng đồng hồ với cụ , được cụ hỏi han khuyên bảo , Tuấn được hoàn toàn thỏa mãn .
Suốt mấy ngày đi thăm các thắng cảnh ở Huế , Tuấn vẫn không rời khỏi hình ảnh cao siêu lẫm liệt của cụ Phan Bội Châu . Sông Hương núi Ngự , cầu Bạch Hổ hồ Tỉnh Tâm , điện Hòn Chén , các lăng tẩm của các vị Hoàng đế quá cố đều chỉ là những cảnh đẹp nên thơ , tuy là hùng tráng , vĩ đại như không thể nào thanh cao tráng lệ bằng túp lều ba gian của cụ Phan ở Bến Ngự .
Tuấn muốn trở lại nhiều lần để được hầu chuyện cụ Phan , nhưng Quỳnh và Tố bảo :
- Mầy đến đây thường sẽ bị bọn Mật thám và lính mã tà để ý theo dõi có ngày ở tù đấy .
Tuấn ngại không dám đến nữa , nhưng mỗi buổi chiều mát thường rủ vài ba đứa lên Bến Ngự , đi ngang qua trước cổng nhà cụ để nhìn vào .
Nhớ hôm đầu tiên đến viếng cụ , cụ bảo :
- Người Tây không mở nhiều trường để dạy dỗ con dân nước Nam cho nên quốc dân còn thất học nhiều quá . Như thế bảo nước ta tiến bộ văn minh sao cho kịp với các quốc gia trên thế giới ?
Do ý kiến ấy , về nhà trọ , tối Tuấn thử viết một bài luận thuyết nha đề là :” Ở Trung Kỳ , nên cưỡng bách giáo dục “ . Trong bài Tuấn đòi hỏi người Pháp bảo hộ phải mở rộng nền giáo dục cho toàn thể quốc dân , cho tất cả mọi người An nam đều phải được đi học . Tuấn đổi một chữ trong câu của chính trị gia Pháp :" Après le pain, l’instruction est le premier besoin de people “ mà viết lại :” Sau cơm áo , giáo dục là nhu cầu thứ nhất của dân “ . Viết rồi sửa đi sửa lại bốn tiếng đồng hồ mới xong . Tuấn đưa cho mấy đứa bạn ở cùng nhà trọ xem . Ðứa nào cũng khuyến khích Tuấn , và bảo Tuấn chép lại sạch sẽ để sáng hôm sau đem đến toà báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng , thử coi có được đăng không .
Sáng hôm sau , Tuấn đi với bốn thằng bạn đến toà báo Tiếng Dân , ở đường Ðông Ba . Trước khi đến đây , Tuấn tưởng tượng tòa báo đồ sộ , oai nghiêm , có lính gác , có kẻ chầu người chực , cũng như Toà Sứ , Toà Án vậy .
Nhưng khi đến nơi , Tuấn ngạc nhiên , vì là lần đầu tiên Tuấn mới thấy một “ Toà Báo “.
Tòa báo Tiếng Dân là một căn phố chật giống như các căn phố cùng một giãy ở trên lề đường Ðông Ba , ngó xuống sông Ðông Ba , một con sông đào , chi nhánh của sông Hương .
Ðây là một căn phố hai từng trên gác có một cửa sổ mở rộng , từng dưới có một cửa lớn , chật hẹp , phía trên có treo một tấm bảng kẽ chữ in :

TIẾNG DÂN
Hai bên có hai chữ nho : Dân Thanh ( nghĩa là TIẾNG DÂN )
Và một dòng ở trên “ Huỳnh Thúc Kháng Công Ty “

Tuấn sợ , không dám vào . Nhưng mấy đứa bạn cũng chẳng đứa nào dám vào . Năm đứa đi lại trước cửa Toà báo vài ba lần , thằng này xúi thằng kia , rồi cùng cả năm đứa đều vào . Tưởng là gặp ngay cụ Huỳnh Thúc Kháng , chủ nhiệm kiêm chủ bút , nhưng năm cậu học trò thấy một ông mặc y phục An nam , áo dài đen , còn trẻ . Trên tường có tấm bảng đề : Ty Quản Lý . Năm trò không hiểu ty Quản Lý là gì , nhưng Quỳnh cầm bài của Tuấn , đưa bản thảo cho ông ngồi ở đấy . Ông kia lấy xem qua rồi hỏi :
- Bài của cậu muốn gởi đăng báo phải không à ?
Quỳnh chỉ vào mặt Tuấn :
- Dạ, thưa ông , bài của anh này viết , chớ không phải của tôi .
Ông quản lý gật đầu :
- Ðược , để tôi đưa lên gác cho cụ Huỳnh coi , nếu cụ bảo đăng được thì mới đăng , còn không thì bỏ . Các cậu không được đòi lại bản thảo nghe .
- Dạ.
Quỳnh lanh lợi nhất trong đám , chấp hai tay chào :
- Xin chào ông .
Mấy đứa khác cũng bắt chước chào ông “quản lý “ như thế rồi kéo nhau ra . Tuấn chào cuối cùng và lo chạy ra trước .
Ði đường năm cậu học trò bàn tán , không biết cụ Huỳnh Thúc Kháng sẽ cho đăng bài đó hay là cụ bỏ vào sọt rác ? Tuấn hồi hộp suốt ngày đó , ăn không được , và cũng không làm được gì cả . Ði đâu , ngồi đâu , nằm đâu , Tuấn cũng suy nghĩ vẩn vơ , nửa lo sợ , nửa hy vọng . Lo sợ là nếu bài đó sẽ bị cụ Huỳnh bỏ vào sọt rác , thì Tuấn sẽ mắc cỡ với mấy đứa bạn , hai là nếu đăng được thì sợ mật thám tây sẽ theo dõi .
Tuấn viết hơi hăng , công kích người Pháp ở Annam bắt dân nộp thuế mà không chịu mở nhiều trường học để mở mang giáo dục cho dân . Nhưng hy vọng rằng cụ Huỳnh coi bài đó , nếu có câu nào viết hăng quá , cụ sẽ bỏ đi … Ồ , nếu bài của Tuấn được đăng nhỉ ! Ðó sẽ là bài đầu tiên của Tuấn được hân hạnh đăng trên mặt báo mà lại là báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng . Có lẻ hay lắm thì được đăng trong mục “Ðộc Giả Diễn Ðàn “ là cùng . Tuấn tưởng tượng nếu được đăng thì người bạn đã giúp Tuấn ở Qui Nhơn , là anh Phạm Đào Nguyên sẽ được đọc và sẽ viết thư khen Tuấn . Và mấy người ở tỉnh nhà cũng sẽ đọc bài đó , thật là một vinh dự lớn lao vô cùng đối với cậu học sinh 17 tuổi lần đầu tiên tập viết báo .
Mấy đêm liên tiếp hồi hộp không ngủ .
Nhất là đêm thứ năm sau đấy , Quỳnh bảo Tuấn :
- Chiều mai thứ sáu , là ngày Tiếng Dân phát hành . Nếu bài của mầy được đăng thì may ra được đăng trong mục “độc giả diễn đàn “ trong số đó . Nếu không thì nó cũng sẽ hân hạnh được cụ Huỳnh xé chùi đít !
Các bạn của Tuấn nửa đùa nửa thật , nhưng chính Tuấn cũng áy náy lo bài của mình không được cụ Huỳnh chấp nhận .
Bốn giờ chiều thứ sáu , Tuấn đi ra phố một mình đón mua tờ Tiếng Dân . Ðây là tờ báo duy nhất ở Huế thời bấy giờ , mỗi tuần xuất bản hai lần. Uy tín của nó rất lớn , do uy tín cá nhân của cụ Huỳnh Thúc Kháng , một đại Nho , một chí sĩ cách mạng đã bị đày đi Côn Lôn cùng một lượt với cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh , và đã hồi hương sau khi mãn hạn tù .
Uy tín của tờ Tiếng Dân không những riêng ở Ðế Ðô Huế , mà vang lừng khắp trong nước , và là tờ báo đầu tiên được phổ biến sâu rộng từ thành thị đến thôn quê . Riêng ở Trung Kỳ , mỗi làng có vài nhà Nho gọi là “ Tân Nho “ – danh từ dùng để phân biệt với những “ Hủ Nho “ – Tân Nho là những ông Tú , ông Cử , hoặc các thanh niên Nho học có óc “ mới “ , khuynh hướng về văn minh tiến bộ . Họ đều là những người có đóng cổ phần trong Công Ty Huỳnh Thúc Kháng và được biếu Báo Tiếng Dân , hoặc có đóng tiền mua năm Báo Tiếng Dân .
Tuy hầu hết các giớ trí thức “ có đầu óc quốc gia “ ở khắp nước và riêng ở Huế đều mua báo Tiếng Dân , nơi đây họ thích đọc nhất những bài xã thuyết của cụ Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng , và những bài của cụ Sào Nam Phan Bội Châu , nhưng hình như cũng có một số đông người không chịu bỏ tiền ra mua ( giá mỗi số 5 xu ) và chỉ mướn đọc . Có lẽ để tránh cái nạn mướn báo về xem báo cọp , cụ Huỳnh Thúc Kháng đã dùng một biện pháp đặc biệt . Những số báo phát hành ở ngay thành phố Huế , giao cho vài chú em ôm báo đi bán dạo , đều được gấp 6 theo chiều ngang rồi gấp đôi theo chiêù dọc , và dán một giấy trắng bịt hai đầu , có dấu xanh của Toà Báo đóng một nửa trên rẻo giấy , một nửa trên mặt báo .
Như thế, tờ báo bị dán lại , chỉ những người nào trả tiền mua báo , mới xé rẻo giấy kia ra và mở tờ báo ra xem . Biện pháp này tránh được những độc giả xem báo cọp vì mọi khi rẻo giấy bị xé ra rồi , người lãnh báo bán dạo trả lại nhà báo không nhận .
Tuấn trao 5 đồng xu cho đứa bé bán báo dạo và lấy một tờ . Ðó là tờ Tiếng Dân số 100 . Hồi hộp vội vàng , Tuấn xé rẻo giấy có con dâú của ty quản lý tờ báo , và mở ra xem . Tuấn rất đỗi ngạc nhiên và mừng thấy ngay nơi mục xã thuyết ở trang nhất , bài của Tuấn với cái đầu đề in chữ đậm sắp đầy hai cột :” Ỡ Trung Kỳ nên cưỡng bách giáo dục “ , Tuấn ngó liên xuống cuối bài , thấy rõ ràng tên của mình , và một bên có giòng chữ “ còn nữa “ .Tuấn mừng rỡ , không kịp đọc , lật đật cầm tờ báo chạy về nhà . Tụi bạn đi học trường Pellerin chưa về . Tuấn nằm dài xuống bộ ván ngực trãi nguyên tờ báo ra trước mặt và xem bài của mình . Tuấn vô cùng thích thú đọc lại những câu văn chính mình đã viết , nhà báo không thêm bớt một chữ . Những câu văn mình đã nguệch ngoạc bằng mực tím trên trang giấy học trò , bây giờ thành chữ in , đậm đà và sắc sảo trên trang giấy báo Tiếng Dân ! Tuấn vô cùng sung sướng cảm động vì đây là bài báo đầu tiên của mình .
Cũng y nguyên những câu văn đó , mà lúc còn viết tay trước khi đem đến toà báo , không thấy hay , không thấy đẹp , không thấy thâm thúy bằng khi đã in trong mục xã thuyết hai cột báo Tiếng Dân .
Tuấn đọc đi đọc lại từng đoạn , cả bài , xem lại đầu đề in hai giòng chữ đậm , rồi ngó lại cái tên ký của mình cũng in bằng chữ lớn . Tuấn mĩm cười thỏa mãn , nằm ngữa trên bộ ván bóng mướt , mát lạnh , để tờ báo Tiếng Dân trên ngực , nhắm mắt tưởng tượng tất cả sự sung sướng lần đầu tiên có một bài của mình được đặng trên mặt báo , lại là tờ báo có uy tín nhất của Trung Kỳ , của cả xứ An nam tờ báo của cụ Huỳnh Thúc Kháng .
Bài của Tuấn được đăng trong mục xã thuyết , là nơi dành riêng cho cụ Huỳnh Thúc Kháng mà thôi . Tuấn không ngờ bài của Tuấn được đăng thành hai kỳ , kỳ này trong tờ báo số 100 , kỳ sau trong số 101 . Tuấn lại tưởng tượng vài hôm nữa số báo Tiếng Dân nầy sẽ được gửi đi khắp nơi trong nước và tất cả những người quen Tuấn ở Qui Nhơn Quảng Ngãi v.v… sẽ đọc bài của Tuấn . Phạm Đào Nguyên sẽ đọc bài ngay sau khi cầm tờ báo ở sở về .
Và cha của Tuấn , mẹ của Tuấn ở Quảng Ngãi , các thầy giáo của Tuấn , sẽ ngạc nhiên thấy nới mục xã thuyết của tờ báo cụ Huỳnh một bài của Tuấn ký tên Tuấn .
Tuấn đang thưởng thức một mình sự khoái chí mênh mông không kể xiết , thì các đứa bạn đi học đã về , Quỳnh thấy tờ báo Tiếng Dân nằm trên ngực Tuấn , cất tiếng hỏi Tuấn :
- Báo mới đó phải không Tuấn ?
- Ừ.
- Có đăng bài của mầy không ?
- Có .
- Ðâu ?
Quỳnh vội lấy tớ báo tìm mục “Ðọc giả Diễn đàn “ nhưng Tuấn hãnh diện bảo :
- Ngay ở mục xã thuyết.
Quỳnh ngồi xuống ván gỗ , đọc một mạch hết bài báo , trong lúc ba đứa bạn khác đều chụm đầu vào xem bài báo của Tuấn . Ðọc xong , Quỳnh cười vui vẻ :
- Sướng quá hỉ ! Tuấn mầy viết báo được rồi đấy . Ðược đăng trên Tiếng Dân , lại đăng ngay nơi mục xã thuyết của cụ Huỳnh , vinh dự nào bằng .
Xong rồi mấy đứa bạn xúi Tuấn đến toà báo “ xin tiền nhuận bút “.
Tuấn không muốn đi :
- Tao không dám đến cụ Huỳnh để xin tiền nhuận bút . Miễn cụ đăng cho được là khoái rồi .
Quỳnh bảo :
- Cụ đăng là một chuyện , mà mình lấy tiền nhuận bút là một chuyện chớ .
- Nhưng bài đăng đã hết đâu. “ Còn nữa “ mà !
- Vậy đợi xem kỳ số 101 đăng hết bài của mầy , thì đến xin cụ trả tiền nhuận bút . Lấy tiền về ăn chè hột sen , mầy phải đãi mỗi đứa tao một chén , chớ tội gì không lấy , mày !
Số 101 ra , Tuấn cũng vội vàng mua một số xem . Bài của Tuấn vẩn giữ y nguyên đầu đề , với hai chữ “ tiếp theo “ và kỳ này đăng hết , dài hai cột xã thuyết và cũng ký tên của Tuấn .
Gặp lúc túng tiền , chưa có trò nào nhận “ mandat” của gia đình gởi cho , bốn đứa bạn nhất định xúi Tuấn đến toà báo Tiếng Dân . Tuấn cùng đi , nhưng đến toà báo Tuấn đứng lấp ló ở ngoài , không dám vào . Quỳnh và ba đứa bạn đánh liều bước vào toà báo .
Tuấn đứng ngoài cửa ngó vào thấy bốn đứa bạn nói gì với ông quản lý tên là Trần đình Phiên .
Một lúc khá lâu , hình như ông Phiên đi lên gác thưa với cụ Huỳnh Thúc Kháng , rồi trở xuống một cầu thang chật hẹp , kế phòng quản lý , ông hỏi :
- Tuấn là ai ?
Quỳnh vội chạy ra cửa gọi Tuấn vào . Nhưng Tuấn mắc cỡ và nhút nhát, khẽ bảo Quỳnh :
- Mày cứ lấy tiền đi . Tao không vào đâu .
Một lát sau , bốn đứa bạn đi ra . Quỳnh cười bảo :
- Tao phải ký cái biên lai nhận dùm mầy đó .
- Cũng được chứ sao .
Quỳnh đếm bạc trao lại cho Tuấn 4 đồng , và bảo :
- Ông Trần Đình Phiên nói cụ Huỳnh Thúc Kháng khen bài mầy viết hay và biểu trả tiền nhuận bút bấy nhiêu đó .
Tuấn vui mừng quá chừng , nở mũi cười hí hởn , 4 đồng bạc ! Ồ chu choa ! Sao nhiều quá vậy ? Tuấn ước độ 4, 5 giác thôi {1 giác ( tiếng Trung ) , một cắc ( tiếng Nam ) , một hào ( tiếng bắc ) } chớ , ngờ đâu được 4 đồng , món tiền to như thế ! Sẵn dịp đi ngang qua phố Ðông Ba , Quỳnh mượn hai xu để mua một quyển vở , ba đứa bạn kia cũng mượn tiền mua viết chì , mực v.v…Tuấn còn 3 đồng 4 giác .
Tối hôm đó cơm xong , nghe thấy cô hàng bán chè hột sen rao trước cổng , mâý đứa bạn chạy ra gọi .Tuấn vui vẻ đãi mỗi đứa hai chén chè hột sen , mỗi chén một xu .
Nghe nhiều đứa bạn bảo cho biết ở Hà nội , thanh niên sinh viên tham gia các cuộc hoạt động “ Hội Kín” rất đông . Tuấn muốn đi Hà nội . Chàng viết thư ra hỏi ý kiến một người bạn học cũ ở Qui Nhơn bây giờ học trường Thăng Long , Hà nội , và ở trọ nhà một công chức ở đường Général Bichot .
Trong khi chờ thư trả lời , Tuấn đi thăm các thắng cảnh Ðế Ðô, và xem tình hình sinh hoạt ở đây , với mấy đứa bạn học trường Pellerin . Nhóm học sinh này đưa Tuấn đến thăm Nữ công học hội do bà Ðạm Phương điều khiển .
Ðạm Phương nữ sử là một vị phụ nữ quí phái tiếng tăm lừng lẫy ở Huế . Bà rất thông giỏi chữ Hán và thường viết bài bằng Quốc Ngữ , và Hán Ngữ đăng trong Nam Phong Tạp Chí của Phạm Quỳnh ở Hà nội . Bà là vợ góa của một vị cựu thượng thư Triều đình Huế , giòng họ thế phiệt Nguyễn Khoa . Bà là mẹ của nhà văn trẻ tuổi Hải Triều , cậu con trai quý tộc này lại chịu ảnh hưởng học thuyết mác-xít , và có khuynh hướng đệ tứ quốc tế . Bà , thì trái lại , vẫn là một môn đồ trung thành của Khổng giáo , nhưng vẫn theo trào lưu mới . Bà rất tôn sùng cụ Phan Bội CHâu , và tiêm nhiễm tư tưởng ái quốc của cụ . Bà rất được giới nữ trợ giáo và nữ sinh trường Trung học Ðồng Khánh khâm phục lắm . Biệt thự cổ kính của bà là nơi gặp gỡ của các giới nữ lưu “ tân tiến “ cả nam giới trí thức của đất thần kinh .
Do theo lời hô hào trong quyển “ Nữ quốc dân tu tri “ của cụ Phan Bội Châu , bà có đứng ra lập “ Nữ công học hội “để dậy các thiêú nữ ở Ðế Ðô về các môn nữ công , và dạy cả khoa luân lý “ tứ đức tam tòng “ của Khổng giáo . Bà có mời cụ Phan Bội Châu đến khánh thành Hội trong một buổi lễ rất giản dị nhưng rất long trọng với sự hiện diện của hầu hết các giới thượng lưu trí thức và nữ sinh Huế .
Tuấn thắc mắc mãi về hai chữ “ nữ sử “ kèm theo tên Ðạm Phương của bà , Tuấn hỏi một vị giáo sư giỏi chữ Hán , vị ấy giảng nghĩa “ nữ sử “ là chức vị của một quan phụ nữ trong Triều đình , chuyên lo về các nghi lễ của Hoàng Hậu .
Bà cũng viết trong Phụ Nữ Tân Văn tuần báo nổi tiếng ở Saigon và đôi khi trong báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh. Ðạm Phương nữ sử có viết một cuốn sách về giáo dục phụ nữ , được các giới nữ lưu Huế hoan nghênh lắm.
Nhân tiện nói về báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng , là tờ báo” cách mạng “
(nhưng chủ trương rất ôn hòa ) của các giới Lão Nho và thanh niên cách mạng ở Trung Kỳ , ở Huế lúc bấy giờ còn có hai tờ báo khác : tờ Thần Kinh tạp chí , của giới quan lại , và tờ Phụ Nữ tân tiến của bà Lê Thanh Tường , vợ ông bí thư của quan Khâm Sứ Trung Kỳ , Yves Châtel. Tờ phụ nữ tân tiến trình bày và khuôn khổ cũng na ná như tờ Phụ nữ Tân Văn ở Saigon , nhưng bán không chạy . Ngay ở Huế cũng chỉ các bà mệnh phụ và một số phụ nữ trí thức mua mà thôi .
Bà Lê Thanh Tường , người Nam Kỳ , cũng là một nữ sĩ hay làm thơ Ðường Luật có danh tiếng ở Huế thời bấy giờ . Sẵn nói đến nữ giới ở Trung Kỳ , Tuấn còn nghe phương danh một nữ sĩ rất có danh tiếng ở Tourane . Tên bà là bà Vương Khả Lãm , tác giả một bộ tiểu thuyết khá hấp dẫn , nhan đề là “ Tây Phương Mỹ Nhân “ thuật chuyện có thật của một cô Ðầm ở Pháp theo chồng An nam về sống cuộc đời thôn quê trong một làng tỉnh Quảng Nam . Người đàn bà đẹp Tây phương ấy rất sung sướng với người chồng An nam quê mùa , nghèo khổ , mặc dầu bà bị các quan Tây ở Tourane hăm dọa và xúi dục bà bỏ thằng chồng An-na-mít vì danh dự và lòng kiêu căng của người Pháp .
Theo gương Ðạm Phương nữ sử , bà Vương Khả Lãm cũng có mở một hội nữ công tại thành phố Tourane , và cũng có mời cụ Phan Bội Châu ở Huế vào khánh thành . Lễ khánh thành này vì sự có mặt của nhà chí sĩ Bến Ngự và do sự tuyên truyền rầm rộ của bà hội truởng và các hôị viên toàn là các cô gái tân thời , là một biến cố rất long trọng và xôn xao náo nhiệt .
Bà Vương Khả Lãm là người tân tiến nhất ở Tourane thời bâý giờ . Bà rất hăng hái chủ trương “ Nam nữ bình quyền “ do cụ Phan Bội Châu đề xướng theo phong trào Âu Mỹ . Bà là người phụ nữ An nam đầu tiên ở Tourane đi xe máy đầm . Bị dư luận dân chúng xầm xì bàn tán quá bà phải để chiếc xe máy đầm của bà cho ông chồng ngày hai buổi cỡi đi đến sở , và cỡi về . Phu quân là ông Vương Khả Lãm làm tham tá nhà Douane ( thương chánh ) Tourane. Sau này , vì quá tân tiến , giao du rộng , bà hút thuốc phiện và trở thành người ghiền.
Những buổi tối nóng bức , người ta thấy bà nằm bên bàn đèn tự tiêm thuốc phiện lấy và quan tham , chồng bà , cầm chiếc quạt ngồi cạnh quạt cho bà mát . Bà ghiền nặng lắm , có khi nằm hút đến 12 giờ khuya , và ông chồng cũng còn ngôì quạt hầu bà cho đến khi bà dẹp bàn đèn đi ngủ . Bà sẵn sàng tuyên bố với mọi người rằng bà cụ thể hoá học thuyết “ nam nữ bình quyền” .
Về nữ giới , phái trẻ tuổi nhất lúc bấy giờ , có hai cô trợ giáo mới tốt nghiệp bằng Thành Chung ( diplôme d’Études primaires-supérieures franco-indigène) cựu nữ sinh trường Trung học Ðồng Khánh : cô Trần thị Như-Mân và cô Nguyễn thị Du . Hai cô này đều có công lớn trong vụ bãi khóa năm 1927 ở Huế . Sau đỗ tốt nghiệp xong , cô trợ giáo Như-Mân kết hôn với thầy trợ giáo Ðào Duy Anh , ông này đã xin nghỉ dạy để làm trợ bút ( nay gọi là ký giả ) báo Tiếng Dân . Ông Ðào Duy Anh và cô Như Mân , họp tác dịch các sách về chính trị , kinh tế và tự xuất bản , thành lập “ Quan Hải Tùng Thư” . Các sách của Quan Haỉ tùng thư hồi đó được các giới trí thức và thanh niên học sinh rất hoan nghênh , và bán rất chạy .
_

*******************************




Tuấn, chàng trai đất Việt.


CHƯƠNG 38




1927




- Hà Nội "Kinh đô trí thức" của Ðông Dương.
- Phong trào đi du học Hà Nội .
- 2 bài thơ cam kết của đôi bạn trẻ cùng chí hướng .
- Một Quan Huyện làm thơ ca ngợi chiếc xe lửa trên đường Hỏa – xa tốc hành Saigon-Hà Nội .
- Lần đầu tiên đến Hà Nội .
- Xe kéo Hà Nội
Hà Nội ! Thăng Long !
Ðối với Tuấn , chàng thư sinh 17 tuổi , quê quán ở một làng hẻo lánh , nhỏ bé , ở miền núi Trung Kỳ , đi Hà Nội là một việc trước kia không bao giờ chàng dám nghĩ đến .
Dù sao Huế cũng còn gần gũi hơn , Huế mới chỉ là Ðế Ðô của nhà Nguyễn , Huế hãy còn là một thủ đô của xứ Trung Kỳ mà thôi . Chứ Hà Nội ! Ồ ! Hà Nội , tên cũ là Thăng Long , đó là cái gì khác xa Huế , lớn hơn Huế , xưa hơn Huế , đồ sộ hơn Huế . Ðó là kinh đô của Lịch sử ! Ði Hà Nội , tức là đi về cái nguồn gốc của Lịch sử !
Cố cựu hơn Huế , mà tân tiến hơn Huế . Huế chỉ có ông Khâm Sứ , ông vua An Nam , Hà Nội có ông Toàn Quyền , có thành cũ Thăng Long , có trường Cao Ðẳng Ðông Dương , có cầu Doumer, có Hồ Hoàn Kiếm , có đền Bà Trưng , có tượng Paul Bert ! Tất cả bốn nghìn năm lịch sử “ An-nam-quốc “ đều có mặt ở Hànội , Thăng Long .
Tuấn , chàng trai nước Việt ở thế hệ giao thừa , mới 17 tuổi đã bị đuổi khỏi học đường quá sớm , đã phải tạm biệt thôn quê và tỉnh nhà để đi tìm hoài bão tương lai . Chàng trố mắt nhìn xã hội An-nam với tất cả tâm hồn ngây thơ mơ mộng , lại ngơ ngác trước những cái mới mẻ lạ kỳ , tò mò tìm hiểu bao nhiêu điều cần học hỏi . Tuấn đã thấy thật nhiều ở Huế , nhưng Huế chật hẹp quá , Tuấn mới ở đây một tuần lễ đã cảm nghĩ rằng mình đã biết gần hết Huế rồi .
Bây giờ lên đường đi Hànội , lòng Tuấn hồi hộp vô cùng . Tuấn rất buồn vì mình không phải con nhà giàu . Sinh trưởng trong một gia đình lao động , cha làm thợ mộc , mẹ không có buôn bán gì , được người anh học giỏi làm việc cho Tây - Trần Anh Tuấn , Phán Sự Tòa Sứ , thì lại bị bắt bỏ tù ! Anh bị bắt cùng một lúc với thầy Ðổng sĩ Bình , phán sự tòa sứ Qui Nhơn về tội “ tạo yêu thơ yêu ngôn “ . Theo bản án của triều đình Huế , tội tạo yêu thơ yêu ngôn nghĩa là sáng tạo ra văn chương và ngôn ngữ phi pháp , chống chính phủ .
Hôm ông Phán Tuấn bị bắt và đưa đi Ban-mê-thuột thì Tuấn không hay biết gì cả vì Tuấn đang học ở Qui Nhơn . Kỳ nghỉ hè về nhà , Tuấn nghe cha mẹ và hàng xóm kể lại , mới biết rằng ông Phán Tuấn có chân trong một hội kín gọi là “ Thanh niên cách mạng đảng “ và có góp tiền “ mua súng để đánh Tây “ . Tuy bề ngoài làm việc ở Tòa Sứ rất chăm chỉ , đối với người Pháp ông rất lịch sự , nhã nhặn , nhưng không ai ngờ ông Phán Tuấn lại là một đồng chí hăng hái nhất của một đảng cách mạng . Ông hoạt động bí mật trong tỉnh nhà đã hai ba năm rồi mà không ai biết cả , trừ những đảng viên .
Nghe các thầy thông thầy ký thuật lại , hôm có lính Tập vây nhà và bắt thầy phán Tuấn , rồi dẫn đến quan Công Sứ Pháp, ông này hết sức ngạc nhiên hỏi Tuấn là người cộng sự đắc lực nhất và quí nhất của ông :
- Taị sao anh vào đảng chống Pháp ?
Thầy Phán Tuấn đáp :
- Thưa ông Sứ , tôi chỉ làm bổn phận của một người dân vong quốc .
- Nhưng anh biết rằng người Pháp đem văn minh qua cho người An nam ?
- Người Pháp làm bổn phận của họ . Chúng tôi làm bổn phận của chúng tôi .
- Anh nghĩ sao khi chính tôi đây đã đối xử rất tốt đối với anh và đồng bào của anh ?
- Vâng , ông nói đúng và tôi xin cảm ơn ông. Nhưng tôi làm cách mạng không phải chống cá nhân của ông , mà chống nước Pháp , chống chế độ thực dân của Pháp .
Ông Sứ làm thinh . Một lúc, ông bắt tay phán Tuấn trước khi truyền lịnh đem giam Tuấn vào lao :
- Dù sao , anh cũng là một người có chí khí ( Quand même, vous êtes un brave ! )
Khi các quan An nam đem phán Tuấn ra xử theo luật Gia Long , tội của Tuấn là “ tạo yêu thơ yêu ngôn “ ( tạo ra thơ văn và lời nói phi pháp ) và kết án khổ sai chung thân . Ông Công sứ Pháp phản đối , đề nghị giảm xuống còn 9 năm tù , đày lên Ban-mê-thuột .
Lúc xét nhà phán Tuấn , lính có bắt được một tập thơ do ông phán Tuấn làm , nhan đề là “ Vần thơ nước mắt “ , trong đó có nhiều bài đả kích các quan và vua An Nam . Tập thơ này , chính Tuấn-anh cũng có đưa cho Tuấn-em xem . và Tuấn-em có chép riêng trong một quyển sổ con mấy bài như sau đây:

Quan đi lọng
Khéo trò võng lọng , khéo trò quan !
Chẳng biết hổ ngươi , chẳng ngỡ ngàng !
Mất nước muôn dân còn oán hận ,
Làm thân tôi mọi cũng nghêng ngang !

Làm vua thua bù nhìn
Biết nhục không , vua ? Vua hỡi vua !
Bù nhìn còn biết giữ bờ dưa
Ngai vàng chẳng hổ thân nô lệ ,
“ Hoàng đế An nam “ khéo vẽ bùa !

Khuyên cậu học trò
Trò ơi ! ôm sách đi đâu ?
Học bài toán đố , học câu vẹc-bờ
Ngày nay tuổi cậu còn khờ ,
Miếng cơm manh áo còn nhờ mẹ cha ,
Mai sau khôn lớn , đẩy đà
Làm trai phải nhớ Nước Nhà , mang ơn .
Hai vai gánh vác giang sơn
Bẻ dây xiềng xích , thoát cơn tôi đòi .
Khí thiêng nung đúc giống nòi
Rồng Thiêng muôn thuở muôn đời tự do !

14-7 ( cách-tót-duy-tê )
Cách-tót-duy-dê, đã tới đây
Là ngày Quốc Khánh của ông Tây
Tỉnh thành loe loét cờ ba sắc
Áo mão vêng vang khỉ một bầy
Ðại Pháp câu mồi , vui thích hỉ !
An nam liếm chảo , tức cười thay !
Làng quê kẻ chợ đi xem hội , Cờ bạc, rượu chè , lắm kẻ say !

Khóc cụ Phan Chu Trinh
Ôi cụ Tây Hồ , ới cụ ơi !
Nước nhà đau đớn , cụ buông xuôi !
Gông cùm nô lệ , dân còn oán
Quân chủ chuyên quyền , hận chửa nguôi !
Ðất nổi phong ba , trời thảm lụy
Dân không cha mẹ , Nước mồ côi !
Hương lòng một nén , thơ năm vận ,
Khóc cụ Tây Hồ , ngấn lệ rơi !

Gởi Tuấn-em
Nhắn nhủ em trai , óc dại non
Ðôi lời mực thước , nhớ châm ngôn
Học làm nô lệ , thà đừng học
Khôn việc Nước Nhà , ấy mới khôn
Cam khổ không sờn , noi lý tưởng
Thanh bần cố giữ , vẹn tâm hồn
Công danh sự nghiệp do mình tạo
Khí khái anh hùng , để tiếng thơm .
TRẦN-ANH-TUẤN
(Vần thơ nước mắt )
1924-1926
Nhất là bài thơ sau đây , như bản chúc thư của người anh ruột yêu qúi , mỗi lần nhớ đến là Tuấn buồn và lo .
Buồn , vì Tuấn đã không làm được việc gì cho có tiền để phụng dưỡng mẹ cha , mà lại còn muốn trốn gia đình để đi Huế , đi Hà Nội thì thật là một đứa con bất hiếu , một đứa em không nhớ lời khuyên dạy của anh . Tuấn biết vậy , nhưng làm sao được khi tính phiêu lưu mạo hiểm , chí khao khát học hỏi , và lý tưởng cách mạng đã được nung đúc từ ba năm qua , như đa số học sinh thời bấy giờ , tất cả những yếu tố ấy mạnh hơn Tuấn , thúc đẩy Tuấn đi tìm một lẽ sống thích hợp cho tâm hồn của chàng trai đang say sưa với thời buổi mới .
Tuấn lại lo vì Tuấn không biết rồi đây tương lai của Tuấn sẽ như thế nào ? Có thể giữ được không những ý nguyện thầm kín của Tuấn , theo lời dạy bảo của anh ? Làm sao cho trở thành một Ðất Nước , với Giống Nòi ? Làm sao cho tâm hồn giữ được thanh cao , cho đạt được lý tưởng của đời sống khí khái anh hùng mặc dầu sẽ chịu nhiều cam khổ ?
Tuấn cảm thấy mình hãy còn bé quá , khờ dại quá . Anh cả của Tuấn , cột trụ của gia đình , bây giờ đã đi ở tù tại nhà lao Ban-mê-thuột chính vì lý tưởng cách mạng . Tuấn là con trai duy nhất còn lại với cha mẹ , thì đã bị nhà trường đuổi vì quá hăng say trong cuộc bãi khóa vừa rồi , từ nay làm sao tiếp tục học được nữa ? Ðành rằng anh cả nhắn nhủ :” Học làm nô lệ thà đừng học “ , Tuấn cũng quyết định sẽ không bao giờ làm nô lệ , nhưng Tuấn cần phải học giỏi để có căn bản văn hóa vững chắc mới thực hiện được lý tưởng của đời Tuấn , mới đạt được sự nghiệp tương lai .
Tuấn trằn trọc suốt đêm trước giờ ra ga xe lửa để đi Hà Nội , cứ nhớ lại mấy bài thơ của anh cả , từng chữ như những lời khuyên răn , mà cũng là những lời tâm huyết , vừa cảnh cáo , vừa khuyến khích …vừa đề phòng …Tâm sự của Tuấn đêm nay là tâm sự của một chàng trai của Ðất Nước , đang bơ vơ , ái ngại , lo sợ trên đường đời vô định .
Hầu hết những chàng trai nước Việt , cùng lứa tuổi của Tuấn , trong thời gian 1926-1927 cho đến 1931-1932 , tuy hoàn toàn mỗi người mỗi khác , nhưng tâm sự lo lắng cho tương lai , cho đất nước , đều như thế cả .
Bởi đó là thế hệ trai trẻ đang chịu ảnh hưởng sâu đậm của trào lưu cách mạng do hai nhà chí sĩ họ Phan đã gây ra , và do lớp trí thức đàn anh noi theo gương hai cụ , tiếp tục đề cao tinh thần cách mạng trong các giới sĩ phu …
Tuấn chỉ đủ tiền mua vé xe lửa từ Huế ra Hà Nội còn dư trong túi được vài chục tờ giấy bạc 1 đồng , do vài đứa bạn gom góp cho thêm , mỗi đứa cho mười giác , hoặc hơn nữa .
Chiếc xe lửa cũ kỹ , dơ bẩn từ ngoài đến trong , kéo gần hai chục cái toa , cái gòn
(wagon) , thành một đoàn dài đậu sừng sững từ đầu đến cuối sân ga , cao như một bức thành mầu nâu , bẩn thỉu .
Lần đầu tiên được đi Hà Nội mà đi trên chiếc tàu hỏa ghê tởm như thế kia , Tuấn không được vui lắm, Tuấn mua vé hạng tư , ngồi trong một toa đầy nghẹt hàng hoá , hành khách chen lấn nhau , đủ hạng người . Tuấn chỉ có một chiếc va li nhỏ bằng mây rất đơn giản , trong đó sắp xếp mấy bộ quần áo tây và An nam , toàn đồ cũ và năm bảy quyển sách Pháp , Tuấn đút va li dưới gầm ghế ngay chổ Tuấn ngồi để dể canh chừng , sợ thất lạc . Mấy đứa bạn của Tuấn có mua cho Tuấn để ăn dọc đường : một trái bưởi Huế , một khúc bánh mì và một gói kẹo thèo lèo để ăn tạm với bánh mì .
Nên nhớ rằng ở Huế và cả miền Trung vào khoảng đó ( 1926-1927) bánh mì vẫn chưa được thông dụng trong dân chúng An nam . Nó thuộc về các món ăn của Tây , và phần nhiều những người ở giới thân cận với Tây mới thỉnh thoảng dùng đến . Còn quần chúng An nam chỉ thích ăn các món bánh truyền thống như bánh bèo và bánh hỏi . Bánh mì là một thứ bánh lạ , người An nam ăn một vài lần cho biết thế thôi , chớ không ham chuộng lắm , cho nên nó không được bình dân , và các tiệm ăn An nam ít có bán . Mấy đứa bạn của Tuấn muốn cho Tuấn được món ăn đặc biệt trên xe lửa đi Hà Nội , đã phải đến nói riêng với anh bồi của nhà hàng Morin là nhà hàng độc nhất của Pháp ở Huế để nhờ anh mua dùm một khúc bánh mì chánh hiệu của Tây . Vì hình như bánh mì bán ra cho người An nam thì có pha bột khoai mì .
Anh bồi của nhà hàng Morin có lòng tốt , nhờ quen với một cậu học trò , bán cho mấy đứa bạn của Tuấn một chiếc bánh mì lớn bằng trái bắp với giá tiền 5 xu ( bằng 50 đồng bạc ngày nay ) . Quỳnh hãnh diện trao chiếc “ bánh mì Morin “ cho Tuấn với mấy lời trịnh trọng sau đây :
- Nè, chiếc bánh mì Morin , mầy cất kỹ trong vali để dành ăn trên tàu hỏa . Trên tàu có bánh mì để bán cho Tây chớ không có đủ để bán cho An nam đâu .
Tuấn nghe lời , cất kỹ khúc bánh mì bằng trái bắp trong va li quần áo . Bánh mì để ăn với …kẹo thèo lèo cũng do mấy đứa bạn mua cho .
Một việc không ngờ cho Tuấn là lúc tàu huýt còi sắp sửa chạy , Tuấn đứng thò đầu ra cửa ngoắc tay từ giã tụi bạn thì Quỳnh chồm lên nhét vào tay Tuấn một miếng giấy , với nụ cười cảm động :
- Ðể tàu chạy rồi hãy coi !
Tàu chạy xong ra khỏi ga Huế . Tuấn mở giấy ra xem , thì là một bài thơ của Quỳnh :
Tiễn Bạn Trần Tuấn
Tiển bạn ra đi , dạ thẫn thờ
Chút tình ghi lại mấy vần thơ
Học đường , nhắc bạn đừng xao lãng ,
Chí khí làm trai chớ bỏ ngơ
Tổ quốc đang mong bầy tuổi trẻ
Thân tằm phải nhả những dây tơ
Mấy lời tâm nguyện tôi cùng bạn
Non nước ngày mai …há hững hờ ?
Tuấn xem lại bài thơ của Quỳnh hai ba lần và đã thuộc lòng .Từ đó , trên ghế dài của toa xe lửa phần thì bị lắc qua lắc lại với tiếng động rầm rầm của những bánh xe lăn trên đường sắt , phần bị ép chặt cứng giữa một bà lão ngồi ngủ gục luôn chạm mạnh đầu bà vào đầu chàng , và một ông cụ nhà nho miệng nhai trầu và hút thuốc không ngớt , chốc chốc rung đùi như cảm hứng một mình , Tuấn cũng nghĩ ra được một bài thơ để họa lại bài tiễn bạn của Quỳnh .
Mãi khi tàu hỏa ra khỏi Quảng Trị , khỏi ga Ðồng Hới , Tuấn mới nghiền ngẫm xong bài thơ họa , nhưng vẫn âm thầm trong trí óc , không chép ra được vì không có giấy , không có bút , trong lúc xe lửa chạy vùn vụt , rầm rầm , nhức đầu , ù tai , mũi Tuấn hít đầy than và khói .
Thơ của Tuấn họa như sau đây :
Gởi bạn Phan Quỳnh
Xa quê , lạ cảnh , óc bơ thờ
Thăm thẳm đường đời , ngại tuổi thơ
Văn học trau dồi tuy cố gắng
Non sông tủi nhục khó làm ngơ
Gọi hồn , chiếc hạc bay tung cánh ,
Vương kiếp con tằm nhả phím tơ .
Ðất rộng trời cao duyên cát bụi .
Biết đâu thân thế chỉ mong hờ !
Lúc ra Hà Nội , chép lại bài thơ gửi vào Huế cho Phan Quỳnh , Tuấn chứa ở dười bài thơ :
Câu đầu làm lúc tàu băng qua cầu Bạch Hổ , Huế . Câu cuối làm xong sau khi tàu ra khỏi ga Ðồng Hới .
Tuấn , 28 Septembre 1928
Chàng thiếu niên tự cho là thích thú , đọc thầm lại bài thơ của Quỳnh và bài họa của chàng . Ngâm mãi trong miệng một lát , chàng tủm tỉm cười một mình và quên những người ngồi chung quanh , chàng ngâm lớn lên hai câu mà chàng khoái nhất :
Gọi hồn , chiếc hạc bay tung cánh
Vương kiếp con tằm nhả phím tơ .
Ông cụ nhà nho ngồi sát cạnh , ngó chàng :
- Cậu ngâm thơ của ai đấy ?
Tuấn giựt mình , như sực tỉnh giấc mộng , lễ phép đáp :
- Dạ , thưa cụ , con ngâm hai câu thơ của thầy con dạy ở trường .
- À, tôi cũng làm thơ . Buồn ngủ quá . Làm thơ để khỏi ngủ gà ngủ gật như người ta. Thơ tôi là thơ Ðường luật , bát cú , cậu có nghe không ? Thơ tôi thì xuất sắc lắm . Tôi đọc cậu nghe nhé !
- Dạ.
Ông cụ nói tiếng Quảng Bình , hơi khó nghe một tí đối với Tuấn chưa quen nghe . Nhờ được cái là ông cụ khoái chí , rung đùi , ngâm đi ngâm lại hai ba lần nên Tuấn nghe rõ và nhớ được hết . Ðây là bài thơ cuả cụ :
Chiếc Tàu Hỏa
Khen thầy Ðại Pháp thật văn minh
Tàu hỏa bầy ra , ai cũng kinh
Sức mạnh ầm ầm ghê máy móc
Chạy nhanh vùn vụt , tựa cung tên !
Ăn mây , nuốt gió , tung trời đất ,
Trèo núi , băng sông , vượt thác ghềnh .
Huýt tiếng còi vang , rung vũ trụ ,
Ðến ga, kẻ xuống có người lên !
Rất tiếc là ông cụ không cho biết tôn danh , và Tuấn không dám hỏi . Nhờ nói chuyện một lúc , cụ mới cho cậu thiếu niên biết cụ làm Tri-huyện ở Do Linh . Tuấn không thuộc địa dư , không nhớ Huyện Do Linh ở tỉnh nào , nhưng Tuấn không dám hỏi nhiều , chỉ thích ngồi nghe. Cụ nói chuyện vui vui . Cụ giảng nghĩa bài thơ của Cụ , từng câu từng chữ cho cậu thiếu niên nghe , để cậu thưởng thức thi vị của bài thơ mà cụ cho là xuất sắc , là kiệt tác trong loại thơ Đường luật bát cú .
Tuấn hơi ngạc nhiên là ông cụ nhà nho làm đến chức quan Tri huyện thì đáng lẽ cụ mua vé hạng ba , hoặc hạng nhì , sao cụ lại mua vé hạng tư ! Có lẽ quan Huyện muốn tiết kiệm tiền , vì thời bấy giờ lương quan Huyện An nam không hơn lương một ông quan Phán đầu tòa .
Quan Huyện là nhà nho học , nhưng cũng biết tiếng Tây , nói được tiếng Tây tuy không đúng văn phạm lắm . Quan hỏi chàng thiếu niên một câu tiếng Tây :
- Vous savez pourquoi je parle le Francais comme les Francais, mais je chique toujours du bétel aussi ?
Tuấn thấy câu tiếng Pháp của quan không được Tây lắm , nhưng miễn chàng hiểu nghĩa :” Anh biết tại sao tôi nói tiếng Pháp như người Pháp , nhưng tôi vẫn ăn trầu ?” .
Tuấn cũng trả lời bằng tiếng Pháp :
- Non
- Parce que le bétel c’est le quốc hồn quốc túy des Annamites.
Tuấn không nhịn cười được nữa , vì cụ nói “ trầu là quốc hồn quốc tuý của người An nam “ . Có lẽ vì cụ không biết dịch bốn chữ “ quốc hồn quốc tuý “ ra tiếng Pháp như thế nào , nên cụ để nguyên tiếng Việt trong câu tiếng Pháp của cụ . Cụ còn nói thêm , vẫn nói tiếng Pháp , đại ý : người An nam phải giữ quốc hồn quốc tuý của mình , không nên bắt chước người Tây hết , như mặc áo dài , bịt khăn đóng , ăn trầu v.v… là những cái hay cái đẹp mà không nên bỏ …
Nhờ câu chuyện vui vui với quan Huyện Do Linh mà Tuấn không buồn ngủ và quên nỗi mệt nhọc trên tàu . Hình như quan cũng thấy Tuấn ngoan ngoãn , nên quan ưa nói chuyện . Ngồi một mình trên tàu không ai nói chuyện với ai , buồn chịu sao nỗi ? Nhưng nói mãi cũng chán , và Quan Huyện nói nhiều lắm , chắc cũng thấm mệt . Quan thiu thiu ngủ , gục đầu vào thành xe …
Tuấn ra hành lang đứng xem phong cảnh …
Tuấn hồi hộp vô cùng . Trái tim của Tuấn rung động mạnh , giống như chuyến tàu chuyển đi vùn vụt trong đêm khuya . Tuấn lo nghĩ lan man về cuộc viễn du cũng như cuộc đời vô mục đích mà không biết ngày mai sẽ ra thế nào ? Tuấn còn nhỏ , đường còn xa , năm tháng còn dài thăm thẳm , rồi đây Tuấn ra Hà Nội sẽ làm được gì ? Sẽ đạt được gì ?
Lơ lửng giữa một xã hội nửa cựu , nửa tân , tuổi của Tuấn chưa un đúc được cái cũ , chưa thấm nhuần được cái mới , Tuấn tự cảm thấy bơ vơ lạc lỏng không ai chỉ dẩn . Hầu hết những chàng trai đất Việt đồng lứa với Tuấn , của thế hệ 1925-1932, đều phân vân nơỉ ngã ba đường của Lịch sử . Ghét Tây mà sợ Tây , mà phải học chữ Tây , đọc sách Tây . Một số thi đậu ra làm việc cho Tây để kiếm tiền nuôi mình , nuôi vợ con , giúp cha mẹ để đền ơn sanh thành , báo đáp công ơn dưỡng dục , ôm chữ hiếu để thờ mẹ kính cha , lấy chữ an thường thủ phận để bảo vệ đời mình .
Còn một số khác vẫn âm thầm óan hận , kết bạn kết bè , lê la những bước sống phiêu lưu ở ngoài rìa xã hội . Họ là thanh niên trí thức , học rộng biết nhiều . Ngoài những sách vở của nhà trường, họ còn tìm hiểu thêm trong các ngưỡng cửa của trí óc , mở rộng nhãn tuyến của học vấn vô biên , của tư tưởng bao la , của kiến văn vô tận . Tuấn thèm thuồng đời sống tự do bay nhảy của hạng trẻ tài hoa tuấn tú ấy . Nhưng làm sao đây ? Tuấn sợ rằng mình bé nhỏ quá . Mình vô tài ? Mình bất lực ? Mình không có khả năng gì quán xuyến hơn người ? Nên rời ghế học đường , Tuấn đi phiêu lưu nơi “ nghìn năm văn vật” mà lòng ái ngại , trí lan man , chưa có gì ổn định cả .
Tàu hỏa đã qua nhiều ga , đã ghé nhiều tỉnh , nhiều thành phố mà Tuấn đã học thuộc lòng trong sách địa dư của nhà trường : Quảng Trị, Quảng Bình , Hà Tĩnh , Nghệ An , Vinh , Thanh Hóa , Ninh Bình , Nam Ðịnh …
Người ta cho biết 6 giờ chiều tàu sẽ đến Hà Nội . Khỏi ga Văn Ðiển là ga gần Hà Nội , Tuấn đã thấy những trụ “ giây thép gió “ cao ngòng lố nhố tận nơi xa . “ Hà Nội đấy ! Giây thép gió Bạch Mai đấy ! “ . Một ông cụ người Bắc trả lời cho Tuấn , khi Tuấn hỏi cụ .
Trên tầu, hành khách nhộn nhịp , sửa soạn hành lý , khỏi phải dọn dẹp gì cả , nhưng chàng cũng lo sợ , lỡ trong lúc lộn xộn xuống tầu , ai xách chiếc va li của chàng thì nguy… Chàng xách va li đứng nơi cửa sổ , nhìn phong cảnh đất Bắc , gần đến ngoại ô Thăng Long .
Tầu vùn vụt chạy ngang qua một cánh đồng , rồi bắt đầu chầm chậm , rú lên một hồi còi thánh thót …Một ao sen trắng …một ao sen hồng …rồi một dãy phố …một dãy phố …Tàu chầm chậm …chầm chậm …nhả khói …phịch…phịch…phịch…như một người thở hổn hển sau khi đã chạy hết một đường trường xa lắc xa lơ , hết hơi , mệt đứ đừ , vừa đến đích .
Ðối với Tuấn , thiếu niên 17 tuổi, quê ở một tỉnh nhỏ miền Trung , ga Hà Nội to lớn “ ghê hồn “ , kiến trúc đồ sộ hơn ga Huế , mặt văn minh hùng vĩ hơn . Ga Hà Nội làm cho Tuấn sợ , Tuấn thấy mình bé bỏng quá .
Chàng xách va li đứng yên trên bến tàu một lát để ghi vào trí nhớ những giây phút đầu tiên chàng để chân trên đất Thăng Long .
Rồi chàng len lỏi theo sóng người hành khách tay xách , tay cầm , chảy ào ạt ra cửa "sortie”.
Ồ Hà Nội ! Hà Nội ! Giấc mộng say mê của chàng trai phiêu lãng đã hiện ra trong thực tế rồi đây ! Hà Nội rồi đây !
Tuấn đủng đỉnh bước xuống mấy bực thềm xi-măng của nền hè ga cao rộng . Xuống đến sân , chàng gọi chiếc xe kéo , hỏi người phu xe một câu ngớ ngẩn :
- Bác ơi bác , bác biết đường Général Bichot không ?
Người phu xe nhanh miệng đáp :
- Phố nào lại chả biết . Mời cậu lên xe , tôi đưa cậu đến nơi ngay .
Tuấn mừng quá , xách va li lên ngồi trên chiếc xe kéo không khác gì xe kéo ở Huế hay ở Quảng Ngãi , Qui nhơn . Nhưng bác “cu li “ Bắc kỳ lanh lợi hơn và có vẻ sốt sắng hơn . Xe chạy qua mấy đường phố rộng thênh thang , và chạy mãi …Tuấn hỏi :
- Bác ơi , đường Général Bichot tới chưa ?
- Ðường gì cơ ?
- Général Bichot .
- Ở đây có phố Ni-Sô , tiếng An nam tức nà phố Quán Sứ ấy , chứ nàm gì có phố Bi-Sô .
Tuấn rất ngạc nhiên . Ðúng theo địa chỉ trong thư người bạn , thì anh ấy ở Général Bichot , mà sao bác phu xe bảo không có . Bác ấy kéo đến đường Richaud ( phố Quán Sứ ) hỏi số nhà 27 thì không đúng . Tuấn bắt đầu phân vân lo sợ . Nhưng bác phu xe vẫn bình tỉnh , điềm nhiên bảo cậu khách trẻ tuổi ở quê xa :
- Cậu đừng có no …Tôi đưa cậu đến phố gì Sô ấy , chả việc gì mà no !
Tuấn cố hiểu lời nói của bác phu xe mà lần đầu tiên chàng nghe nói tiếng “ L” thành ra “ N” . Ngồi trên xe , Tuấn vẫn không yên lòng . Chàng suy nghĩ mãi làm sao cái bác “cu li xe kéo“ này không biết đường Général Bichot ở đâu mà cứ bảo chàng đừng lo , thế nào bác ấy cũng đưa chàng đến nơi đến chốn ?
Bác “cu li xe “ chạy ba hồi bảy chập , loanh quanh các đường trong thành phố , rồi rốt cuộc , đến một ngã tư đại lộ , bác đặt gọng xe xuống lề đường , để Tuấn ngồi đấy . Bác chạy đến chỗ có hai ông “đội xếp “đứng gác đường , nói gì với họ . Một ông đội xếp tiến đến gần Tuấn :
- Cậu tìm phố nào ?
- Dạ thưa ông , đường Général Bichot .
Ông đội xếp trố mắt nạt bác cu li :
- Bichot , tức là phố Cửa Ðông , không biết à ?
Bác cu li khúm núm trả lời :
- Vâng , thưa thầy con biết ạ .
- Biết sao còn hỏi vớ vẩn ?
Ông đội xếp bỏ đi . Bác cu li kéo Tuấn đến một đại lộ ngắn nhưng rộng lớn . Tuấn ngó lên tấm bảng xanh đề chữ trắng tên đường đóng trên lưng chừng một cột đèn điện nơi góc phố : “ Avenue Général Bichot “ . Tuấn mừng quýnh , tìm số nhà 27 . Ðúng là nhà trọ của anh bạn của Tuấn . Tuấn hỏi phải trả bao nhiêu tiền xe , người bạn nói ngay :
- Từ ga xe hỏa về đây đúng tariff 3 xu .
Bác cu li không bằng lòng :
- Sao nại 3 xu ? Tôi đưa cậu ấy đi chơi mát xuống tận mãi dưới Chợ Hôm , nên đến Yên Phụ rồi về đây , mà 3 xu nà thế nào ?
Bạn Tuấn cãi nhau với bác ấy một lúc khá lâu , dĩ nhiên là bác cu li cãi bướng và dùng rất nhiều lời thô tục . Trẻ con hàng xóm, cả người lớn nữa , bu đến thật đông để nghe câu chuyện . Rốt cuộc bạn của Tuấn lấy trả cho bác ấy năm hào . Bác vứt tiền xuống đất quát lên :
- Chạy khắp 36 phố Hànội mà bố thí cho người ta dăm hào ?
Tuấn sực nhớ có đọc trong tác phẩm của một văn hào Pháp chuyện một người Ba Tư tới Paris. Tuấn , cậu học trò ở tỉnh , lần đầu tiên đến Hà Nội , tay xách chiếc va li mây của nhà quê , đứng ngơ ngác trước đám đông người , y như chàng Ba Tư đến kinh đô Paris vậy …
Sau cùng người bạn phải trả cho bác cu li xe một đồng bạc y như lời bác ấy đòi .



hết: CHƯƠNG 38


****************************************************


Tuấn, chàng trai đất Việt.


Chương 39




Hà Nội - 1927




- Lỗ đạn đại bác " Souvenir de 1882 " trên thành Cửa Bắc.
- Các thắng cảnh. Hà-Nội so sánh tổng quát với Saigon
- Nhà cụ Ngô Ðức Kế ở Bạch Mai. Ðám táng cụ Ngô Ðức Kế.
- Sinh viên , học sinh. Báo chí.
- Toà soạn báo L Argus Indochinois, báo cách mạng của người Pháp chống thực dân Pháp , hô hào An Nam độc lập.
- Đảng Ðộc Lập An Nam
Tuấn quyết định để một tuần lễ , hoặc mười ngày, đi xem cho hết tất cả Hà Nội về tất cả mọi mặt , nhất là về phương diện lịch sử , phong tục , xã hội , văn hóa.
Tuấn nhờ một người bạn đồng hương , ở Hà Nội đã lâu học trường Cao đẳng Sư phạm , hướng dẫn Tuấn đi chơi khắp các phố phường nơi “nghìn năm văn vật “. Tuấn tự hứa sẽ tiếp tục lo học sau khi biết qua bộ mặt của kinh đô Thăng Long.
Một di tích làm cho Tuấn chú ý hơn cả ở đại lộ Carnot dọc theo bức thành Hà Nội cũ , kế cận Cửa Bắc đã bị bịt kín lại , có một lỗ thủng khá sâu và trên độ 5 tấc đường kính , ở phía trên có một tấm biển đồng đóng vào thành , chạm mấy chữ Pháp :
Souvenir de 1882
Vết lủng lớn bên trái cửa thành là do đạn đại bác của Pháp từ chiếc thuyền đậu trên sông Nhị Hà bắn vào thành lúc 5 giờ sáng ngày 8-3-1882, trước khi đổ bộ chiếm thành . Vua Tự Ðức phải ký hòa ước chịu để cho Pháp đô hộ toàn lãnh thổ “An Nam“ sau khi thất thủ Hà Nội, Tổng Ðốc Hoàng Diệu thắt cổ tự tử trong thành ngay sáng hôm đó .
Người Pháp giữ y nguyên Cửa Bắc và vết đại bác trên thành để làm kỷ niệm cuộc chiến thắng và đô hộ của họ . Phía dưới lỗ đại bác có gắn tấm đồng : SOUVENIR DE 1882
Tuấn hỏi người bạn :
- Nếu tôi nhớ không lầm thì năm 1882 , hải quân Pháp của đại tá Henri Rivière đậu ngoài sông Hồng Hà bắn đại bác vào thành Cửa Bắc trong lúc quân Pháp đổ bộ lên chiếm Hà Nội . Tổng đốc Hoàng Diệu thấy thành Hà Nội bị thất thủ liền treo cổ tự tử , có lẽ người Pháp đóng tấm biểng đồng nơi đây là để kỷ niệm một viên đạn của Pháp đã làm thủng thành Cửa Bắc , và do đó mà thành Hà Nội bị thất thủ , và vua Tự Ðức phải ký hiệp ước nhìn nhận nước Pháp bảo hộ xứ Bắc kỳ. Tấm biểng bằng đồng đó , theo cảm nghĩ của Tuấn , là một cái nhục lớn cho nước Việt Nam và cho dân Việt Nam. Tuấn không hiểu sao cho đến năm 1927 người Pháp vẫn còn để y nguyên kỷ niệm ấy trên thành Cửa Bắc ? Tại sao các báo và các nhà trí thức An nam ở Hà Nội không có lên tiếng yêu cầu viên Toàn Quyền Pháp cho gỡ tấm biểng ấy đi ?
Có lẽ người Hà Nội thường qua lại trên đại lộ Carnot ( tục gọi là phố Cửa Bắc ) trông thấy tấm biểng đồng kia đã quen mắt rồi nên không còn cảm thấy chút sỉ nhục nào nữa chăng?
Tuấn ngắm tượng Paul Bert ở vườn hoa ở cạnh tòa Ðốc lý , tên Bờ Hồ , tượng “ Bà Ðầm Xoè “ở vườn hoa Cửa Nam , cũng như đài kỷ niệm trận vong chiến sĩ Pháp ở vườn hoa Puginier, chỉ thấy có mỹ thuật mà không thấy có gì là khêu gợi Quốc hận và Quốc sỉ như hai giòng chữ vắn tắt khắc trên tấm biểng đồng Cửa Bắc .
Phong cảnh thiên nhiên ở Hà Nội theo người bạn cho Tuấn biết thì nghìn năm không thay đổi . Chung quanh Bờ Hồ có vài chục cây dương liễu , từ trước đến giờ vẫn buông rủ những “ màn tơ “ thơ mộng . Tháp Bút , cầu Thê Húc , đền Ngọc Sơn , vẫn là nơi gặp gỡ của những khách thừa lương , mà phần đông dĩ nhiên là những bạn trẻ .
Buổi chiều , từ khoảng 5-6 giờ , trên một khoảng đất trống trên Bờ Hồ sau ga “ tàu điện “ ( tramway ) , và đầu phố Cầu Gỗ , người ta bày la liệt những bàn vuông nho nhỏ để bán kem và kẹo dừa cho khách nhàn du. Bọn trẻ con chơi trên các bãi cỏ gần đấy thường hát một bài hát khôi hài , theo điệu một bài hát Tây rất được phổ biến trong dân gian hồi đó :
Mình ơi có đi Bờ Hồ
Cùng nhau chén kẹo kem dừa
Xin mình ( là mình) đừng từ chối
Túi ta có mười đồng xanh
Cứ đi là đi mình nhé !
Nếu cô mình muốn sắm cái chi
Áo vàng , ô tây , bít tất phín , giầy cườm , ô đầm !

Tuy là bài hát của học sinh và trẻ em nhưng Tuấn vẫn thường nghe sinh viên vui mồm hát chơi luôn và cả người lớn nữa .
Cũng trên đường Francis Garnier dọc theo Bờ Hồ , gần hiệu sách Nam Kỳ , có một tiệm kem , rất đông khách , nơi hẹn hò của những đôi trai gái có chút ít tiền xốc-xếch trong túi . Ðây là hiệu kem đầu tiên bài trí “ vui vẻ trẻ trung “ và cũng là tiệm kem độc nhất của cả thành phố Hà Nội .
Khác hơn Sàigon, Hà Nội có vẻ một thành phố văn hóa nhiều hơn , và không có những tiệm ăn ở khắp các ngã tư đường như ở Saigon. Cả Hà Nội chỉ có vài tiệm ăn sang trọng của Hoa Kiều ở phố Hàng Buồm , phố Hàng Long , bán toàn các món ăn Tàu . Tuấn chưa có lần nào bước chân vào đây vì lẽ không có tiền . Rải rác có những hàng phở ở các phố gần chợ , như phố Chợ Hôm , Ô Chợ Dừa v.v…
Ở Ô Chợ Dừa , có một tiệm con con chuyên bán thịt chó . Ở phố Hàng Cân có vài tiệm bán chả cá . Phố Hàng Nén có một tiệm phở đông khách nhất , là tiệm Nghi Xuân , đặc biệt có phở tái sách .
Sở dĩ Hà Nội có rất ít tiệm ăn vì người Hà Nội ít thích đi ăn tiệm . Cơm khách , tiệc tùng , đều đãi ở gia đình . Các món qùa vặt , ngoài các bữa ăn , đều mua của các gánh hàng rong , nhiều nhất là phở , mỗi tô 3 xu .
Sau khi Tuấn đến Hà Nội một vài hôm , Tuấn bảo một người bạn :
- Tôi muốn đi thăm cụ Ngô Ðức Kế . Anh biết địa chỉ của cụ không ?
Bạn Tuấn biết , nhưng chưa đến thăm cụ lần nào , chỉ nghe danh cụ là bạn thân của cụ Phan Bội Châu , Phan Chu Trinh , Huỳnh Thúc Kháng . Cụ có ở tù ở Côn Lôn với cụ Huỳnh , và sau khi được phóng thích về Hà Nội cụ mở tờ tạp chí Hữu Thanh .
Bạn Tuấn dắt Tuấn đi ngã tư Bạch Mai . Lên tàu điện từ đầu Bờ Hồ , mua mỗi vé 1 xu , Tuấn được bạn chỉ cho dọc đường đại lộ Francis-Garnier, Ðồng Khánh , Dốc Hàng Gà , Route de Huế ( chợ Hôm ) Ô-cầu đền rồi thẳng xuống ngã tư Trung Hiền , Bạch Mai , nơi cuối đường tàu điện . Nơi đây có nhà cụ Nghè Ngô Ðức Kế . Hai cậu học trò quê mùa thấy nhà Cụ đóng kín , đứng mãi một lúc ngoài hè , không dám gọi cửa .
Một lúc , một thiếu nữ đi chợ về , hỏi :
- Hai cậu tìm ai ?
Tuấn đáp :
- Thưa cô , chúng tôi từ Trung kỳ ra Hà Nội học , muốn đến viếng cụ Nghè Ngô .
Thiếu nữ mặc y phục Bắc , đầu quấn vành khăn nhung đen , bỏ thòng xuống một đuôi tóc ngắn sau ót , áo cổ thấp , vạc dài đến quá đầu gối . Dĩ nhiên hai cậu học trò cũng mặc quần áo “ An nam“ như hầu hết học sinh lúc bấy giờ . Thiếu nữ mở cửa :
- Mời hai cậu vào .
Nhà dưới trống trơn , không có người . Ði thẳng ra sau , cô đưa hai cậu học trò bước cầu thang lên gác . Vào cửa , cô bảo hai cậu ngồi ghế . Ðây là một chiếc bàn khách với bốn chiếc ghế . Trên tường treo bốn bức ảnh lồng kính : hai cụ Phan , cụ Huỳnh và cụ Ngô .
Hai cậu học trò nghe tiếng một ông già ho sù sụ ở phía sau bức bình phong . Cô thiếu nữ vào đấy một lát rồi trở ra khẽ bảo :
- Cụ tôi mệt , phải nằm nghỉ trên ghế xích đu , phía sau bình phong , mời hai cậu vào .
Tuấn và bạn Tuấn đi guốc nhè nhẹ , rón rén vào . Trông thấy một cụ già ốm yếu ngồi trên ghế xích đu bằng mây và đang ho , hai cậu cúi đầu chào :
- Lạy cụ ạ .
Cụ Ngô Đức Kế nói tiếng Nghệ An , rất yếu ớt :
-Mời hai cậu ngồi .
Có sẵn hai chiếc ghế kê sát tường .
Tuấn lễ phép :
-Thưa cụ , trước khi ra Hà Nội con có đến toà báo Tiếng Dân thăm cụ Huỳnh Thúc Kháng . Cụ Huỳnh có trao con một bức thư để đưa lại cụ .
Tuấn lâý trong túi áo ra một phong thư có tên và địa chỉ báo Tiếng Dân in nơi góc trên , trao cụ Ngô . Cụ mở ra xem rồi nói :
- Cụ Huỳnh nhờ tôi viết bài cho báo Tiếng Dân , nhưng cụ không biết là dạo này tôi yếu lắm , viết lách gì được đâu .
Xong cụ Ngô hỏi han việc học hành của hai cậu khách trẻ tuổi , và có đôi lời khuyên bảo :
- Các cậu học theo tây học , nhưng nên nhớ rằng ta chỉ học theo cái hay của họ , mà đừng học theo cái dở. Học mà không trọng đạo đức và tinh thần ái quốc , như cái bọn Phạm Quỳnh , thì thà đừng học …
Nói bấy nhiêu đó , xem chừng cụ đã mệt , nên cụ không nói nữa . Cụ cúi đầu xuống ho một hồi lâu , trông rất đáng thương .
Hai cậu học trò kính cẩn cáo biệt , sau khi để lại địa chỉ cho cụ theo lời cụ bảo . Không ngờ hai hôm sau , cô thiếu nữ là cháu gọi cụ bằng bác , đến nhà hai cậu để tin cho biết cụ Ngô Đức Kế vừa từ trần . Ðám táng sẽ cử hành ngay chiều hôm đó theo lịnh của Sở Mật Thám bắt buộc .
Tuấn và bạn Tuấn vô cùng xúc động , liền nhờ bà chủ nhà trọ đi mua gấp dùm cho mấy thước vải trắng , hai cậu lấy một que tre lớn chấm vô bình mực viết trên vải mấy chữ :
” Khóc cụ Ngô Tập Xuyên “. Tập Xuyên là bút hiệu của cụ .
Phơi nắng vài giờ đã khô , hai cậu học trò cuốn tấm vải rôì đi Bạch Mai để kịp phúng điếu và đưa đám cụ . Theo cô cháu cụ cho biết thì sở Mật thám Pháp bắt buộc đám táng cụ phải cử hành lúc 5 giờ chiều hôm đó ( cụ chết lúc 5 giờ sáng ) nhưng lúc 3 giờ chiều hai cậu học trò đến nhà cụ thì được biết là đám táng đã đi lúc 2 giờ . Vì Mật thám đã trở lại lúc 12 giờ trưa , bắt buộc phải đổi thời khắc biểu , không cho phép cử hành lúc 5 giờ , sợ dân chúng đi đưa cụ đông đảo . Nghe bà u gìa nói lại thì đám táng của cụ Ngô chỉ có nhân viên mật thám đi đưa mà thôi , còn tất cả bạn bè thân thuộc đều không được phép đi theo quan tài cụ . Ba vòng hoa cườm được đem theo . Còn tất cả các vòng hoa tươi , và đôi liễn, trướng , đều phải để lại nhà .
Hai cậu học trò thất vọng và tức tối , chỉ được vào lạy bốn lạy trước bàn thờ của cụ rồi ra về .
Tuấn nghe các cụ đi phúng điếu nói với nhau rằng Mật Thám Pháp bắt buộc gia đình cụ Ngô Đức Kế phải tống táng cụ vội vàng , lúc 2 giờ thay vì 5 giờ như đã báo trước, là vì họ rút kinh nghiệm ở đám táng của cụ Lương Ngọc Can , cũng là một bậc lão Nho cách mạng trứ danh ở Bắc Hà , cùng một lớp với các cụ Phan Bội Châu , Nguyễn Thượng Hiền , Ngô Đức Kế .
Một nhà lãnh đạo của Ðông Kinh Nghĩa Thục , bị kết án lập “ hội kín “ mục đích phá rối cuộc trị an của nhà nước bảo hộ , cụ cử Lương Ngọc Can cũng bị tù đày, và mãn hạn tù về ở căn phố của cụ , bán tơ lụa phố Hàng Ðào ( rue de la Soie). Vì cụ là một bậc bô lão cách mạng đã nổi tiếng , lại là một nhà nho uyên bác , một danh nhân có cốt cách quân tử , rất được dân chúng Hà thành kính phục , cho nên hôm cụ mệnh chung , cả thành phố Hà Nội đều xôn xao xúc động . Trong không khí cách mạng còn đang sôi nổi lúc bấy giờ , đám táng của cụ Lương Ngọc Can tự nhiên thành ra một đám táng lớn nhất nước , có cả hàng vạn người tham dự , nhất là sinh viên trường Cao đẳng Ðông Dương (Ðại học Hà Nội ) và học sinh trường Trung Học Bảo Hộ , tục gọi là trường Bưởi (collège du Protectorat ) , trường Trung học Pháp-Việt duy nhất của Hà Nội thời bấy giờ .
Tuy không được vĩ đại như đám táng của cụ Phan Chu Trinh ở Saigon mấy năm về trước , nhưng cụ Lương Ngọc Can cũng được đám táng cực kỳ long trọng , mà ý nghĩa chính trị và cách mạng là một thách đố đối với chính quyền Pháp , nhất là sở Mật thám Bắc kỳ .
Ai cũng biết rằng đám táng Lương Ngọc Can là một tượng trưng đúng hơn là một sự kiện lịch sử : ban tổ chức gồm những nhà cách mạng lão thành và những sinh viên ái quốc hăng hái nhất của trường Cao đẳng , muốn tỏ cho người Pháp thấy rằng mặc dầu ở dưới quyền cai trị của Bảo hộ Pháp , dân chúng Việt Nam vẫn sùng bái những nhà chí sĩ của họ , những bậc lão nho cách mạng đã bị Pháp kết án tù đày . Dĩ nhiên là người Pháp căm giận lắm và sở Mật thám Bắc kỳ tìm cách hăm dọa ban tổ chức sau khi đám táng đã xong .
Rút bài học kinh nghiệm đó , họ đã ngăn cản đám táng cụ Nghè Ngô Đức Kế không cho cử hành long trọng . Hơn nữa , họ túc trực ngay tại nhà cụ Ngô và làm xáo trộn hết chương trình các lễ nghi , không kịp để thì giờ cho những người đến phúng điếu . Họ truyền lịnh đem chôn cụ vội vàng , tức tốc , sau khi lịm xong , vào quan tài , và buộc con cháu cụ làm lễ phục tang nội buổi sáng ấy .
Cho nên lúc 3 giờ chiều , Tuấn đi với ba bạn học sinh quê quán miền Trung đến phúng điếu cụ , thì các cậu ngơ ngác bị một người lính mã tà ngồi gác cửa nhà cụ Nghè Ngô , cho biết đám táng đã đi từ lâu . Ba đứa bạn ở lại đây , còn Tuấn hỏi thăm , người ta chỉ đường , lật đật chạy đến mộ cụ . Tuấn tới trong lúc đã chôn xong . Ði đưa đám, trừ con cháu của cụ độ năm ba người chit khăn trắng và khóc nức nở , chỉ còn toàn là nhân viên sở Mật thám Bắc kỳ , người An nam , mặt mũi người nào cũng dữ tợn , đôi mắt như cú vọ đăm đăm ngó Tuấn . Nhưng Tuấn lì lợm , tự xét rằng mình đi đưa đám ma một ông cụ già , chớ không làm điều gì nên tội , nên cóc sợ .
Thanh niên học sinh thởi bấy giờ hiền lành lắm . Chỉ có đám sinh viên Cao đẳng là hăng hái mà thôi . Cả thành phố Hà Nội chỉ có một trường Trung học Bảo Hộ của Nhà Nước và trường Nữ Trung học đường Ðồng Khánh . Không kể trường Trung Học Pháp Lycée Albert Sarraut mà đại đa số là học sinh Pháp , còn học sinh An nam toàn là con nhà giàu và con các quan . Ngoài ra chỉ có hai Trung học tư thục An nam : “Thăng Long , Gia Long , và một trường Trung học tư thục Pháp , Lycée Hồng Bàng" .
Còn thì toàn là các trường Tiểu học cả . Phải nói ngay rằng toàn thể các học đường ở Hà Nội cũng như ở các thành phố khác , đều có một kỷ luật rất nghiêm khắc .
Các trường tư cũng thế . Tất cả học trò đều lo chăm chỉ học hành , và luôn luôn giữ gìn hạnh kiểm rất đứng đắn . Phong trào “ cao bồi “ , “ lưu manh “ chưa có . Ða số học sinh hãy còn mặc quốc phục : quần trắng , áo dài đen , mang guốc . Số học sinh mặc âu phục cũng bắt đầu khá đông , nhưng hầu hết là mặc nguyên bộ costume, áo veste , đeo cravate, chớ không bao giờ mặc áo sơ mi trần . Lý do là theo phong tục người Bắc , ra đường phải y phục chỉnh tề . không thể cẩu thả được . Cũng vì lý do ấy , các trẻ em thiếu niên 9, 10 tuổi ra phố cũng mặc áo dài . Thiếu nữ không bao giờ được mặc áo cánh , áo cụt , áo “ bà ba “ kiểu Saigon, dù là con nhà lao động nghèo khó .
Trò Tuấn mặc âu phục loại vải rẻ tiền , và tiếp tục học thi tú tài Pháp ( Baccalauréat metropolitain. Gọi tắc là : Bac Métro ) . Trò học thêm Anh ngữ trong quyển sách Anh ngữ tự học dạy bằng tiếng Pháp "L’ Anglais Sans Maitre“ hơn 30 bài , của giáo sư Xavier de Bouge. Học trong 6 tháng , chuyên cần mỗi ngày 2 tiếng đồng hồ là có thể viết được thông thạo , đọc được , nói được tiếng Anh .
Ngoài ra, Tuấn được giới thiệu với hiệu sách Nam Ðồng thư xã , ở góc phố Hàng Bồ ( rue des Paniers) kế rạp chớp bóng Ciné Moderne . Hiệu sách naỳ là một căn phố hẹp chuyên bán sách Quốc ngữ về các loại Lịch sử và Chính trị . Sách mỏng , bìa mỏng đủ các màu và bán rất chạy .
Tuấn mua nơi đây những cuốn sách được dân chúng nhất là những thanh niên học sinh và sinh viên hoan nghênh nhất thời bấy giờ . Sách của Nam Ðồng thư xã được phổ biến sâu rộng về các nhân vật của Lịch sử Cách mạng Trung Hoa Quốc Dân Ðảng , dịch trong các sách Tầu xuất bản ở Thượng Hải như : Hồng Tú Toàn , Tam Dân chủ nghĩa , Tôn Trung Sơn , Trình Dục Tú , Hồng Hiên đế chế , Ẩm băng của Lương Khải Siêu , Mã Chiếm Sơn ; Tưởng Giới THạch , Lịch sử Hoàng Hoa Cương v.v…
Nhiều câu thơ Tàu , dịch ra thơ Việt . Có tính chất cách mạng , được thanh niên An nam học thuộc lòng , như bốn câu thơ in trên bìa Trịnh Dục Tú :
Chàng như mây mùa Thu ,
Thiếp như khói trong lò
Cao thấp tuy có khác ,
Một thả cùng tuyệt vời .
Có thể nói rằng thanh niên của thế hệ 1927 rất ham đọc những sách của nhà xuất bản Nam đồng thư xã , và hầu hết đều tiêm nhiễm tư tưởng chính trị và cách mạng của Trung Hoa Quốc Dân Ðảng .
Song song với việc học tiếp tục chương trình “ tú tài Tây “, Tuấn tìm đọc vồn vập lấy , như khao khát thèm thuồng , các sách của Nam Ðồng thư xã , Hà Nội , chuyên về chính trị và cách mạng do lớp trí thức đàn anh viết , hoặc dịch ra . Ðồng thời , các sách của Quan Hải Tùng Thư ở Huế , và của Nữ Lưu thư quán ở Gò Công ( Nam kỳ ) , đều được các thanh niên học sinh , như Tuấn , dùng lam sách để đầu giường .
Ba loại sách khác hẳn nhau về nội dung cũng như hình thức , nhưng tựu trung vẫn đào tạo cho thanh niên một tinh thần cách mạng , và bồi dưỡng lòng ái quốc hăng say .
Loại sách Nam Đồng Thư xã của Nhượng Tống phần nhiều là dịch thuật theo các sách cách mạng của Trung hoa dân quốc . Sách Quan Hải tùng thư của Ðào Duy Anh và Trần thị Như Mân chuyễn dịch , hoặc biên soạn sơ lược, về đại cương các vấn đề phổ thông , về chính trị kinh tế , lịch sử , theo các tác giả Tây phương .
Loại sách này , có lợi ích cho sự giáo hóa chánh trị , được các học sinh Trung Kỳ và Bắc Kỳ hoan nghênh nhiều hơn. Trái lại , sách của Nữ Lưu thư quán ở Gò Công mỗi tháng xuất bản hai quyển , bìa vàng in chữ đỏ , do cô Phan thị Bạch Vân và một nhóm chủ trương , được bán ở Nam Kỳ chạy hơn ở Trung và Bắc . Ðây là loại sách mỏng khuôn khổ một tờ giấy báo gấp thành 32 trang , và hoàn toàn sáng tác về những đề taì chính trị và cách mạng . Ngoài ba loại sách kể trên , thanh niên học sinh còn ham đọc các báo chính trị như :
- L’Argus Indochinois ( Pháp văn ) do ông Amédée Clémenti xuất bản ở Hànội .
- Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Huế .
- La Cloche Fêlée ( Pháp văn ) của Nguyễn An Ninh ở Saigon.
Ðó là ba tờ báo nổi danh nhất và được giới thanh niên học sinh “ có đầu óc “ và một số sinh viên trường Cao đẳng Hà Nội ham thích nhất.
Nhưng lần đầu tiên , Tuấn bị một thất vọng chua-chát trong lúc tuổi trẻ còn những nhận xét trong trắng , ngây thơ . Vốn là độc giả trung thành từ lâu của tờ báo L’ Argus Indochinois , từ lúc còn là một cậu học trò lớp Ðệ Tam Niên ở “ Collège de Qui Nhơn “ Tuấn bây giờ học ở Hà Nội , tìm đến toà báo L’Argus Indochinois ở số nhà 12 đường Doudart-de-Lagrée , người Việt gọi là phố Hàm Long . Chàng đến đây có hai mục đích : để trả tiền mua tiếp tục 1 năm báo , và để được “ yết kiến “ông chủ nhiệm Amédée Clementi mà chàng vẫn tôn kính và khâm phục những bài báo hăng hái đòi độc lập cho nước An nam , và kịch liệt công kích chính sách thuộc địa Pháp ở Ðông Dương .
Sở Mật Thám Pháp ở Hà Nội ghét ông ấy lắm . Ðáng phục hơn nữa vì ông là người Pháp , mà ông viết bài chửi Pháp và bênh vực ngươì An namcòn mạnh hơn người An nam nữa .
Tuấn đến nơi cổng số 12 đường Doudard de Lagrée thấy cổng cài then , đóng chặt . Nếu không có tấm bảng bắt ngang qua hai trụ ngõ , thì Tuấn không thể biết đó là toà báo . Trên bảng được ghi bằng những nét đậm mấy giòng chữ sau đây :
L’Argus Indochinois
Journal de combat contre l’injustice et l’oppression.
Directeur : AmédéeClémenti.
(Minh Trĩ Ðông Dương , tờ báo chống bất công và áp bức )
Trên trụ cổng bên phải , lại còn có đóng chặt một tấm bảng quảng cáo như sau đây :
L’argus Indochinois est un journal d’opposition, car il crie : Vive l’ Indochine !
(Minh Trĩ Ðông Dương là một tờ báo đối lập , vì nó kêu lên : Ðông Dương vạn tuế ! )
Tuấn bấm chuông điện . Một lúc lâu , một u già đủng đỉnh ra mở cổng . Tuấn vào sân . U già bảo : “ Muốn gặp ông chủ thì cậu cứ đi lên gác . Ði vòng ngã sau có cầu thang “ .
Tuấn hơi lo lo … Ai mà chả lo khi tìm đến “ yết kiến “ông chủ nhiệm một tờ báo lớn , lại là tờ báo cách mạng , của một ông Tây mà trí thức toàn quốc ai cũng kính phục ?
Tuấn rón rén bước lên cầu thang , mong đừng có ai nghe tiếng bước của chàng . Chàng gõ cửa phòng đang được khép kín . Có tiếng đàn bà từ trong nói vọng ra:
- Entrez ! ( mời vào )
Tuấn khẽ mở cánh cửa ra , thấy một ông Tây đang nằm hút thuốc phiện và một người đàn bà An namtrẻ đẹp ngồi bên cạnh . Tuấn hết sức ngạc nhiên , và bỡ ngỡ chưa biết là ai , nhưng cũng lễ phép cúi đầu chào . Người đàn bà An nam nhã nhặn đáp lễ rồi hỏi bằng tiếng Pháp - một tiếng Pháp rất lưu loát , giọng nói rất hay , tuy là giọng Bắc :
- Anh đến có mục đích gì ?
Tuấn cũng trả lời bằng tiếng Pháp . Và từ đây câu chuyện toàn bằng tiếng Pháp giữa ông Tây , người đàn bà An nam kia và Tuấn :
- Thưa bà , tôi đến mua tiếp một năm báo ( Tuấn móc túi lấy tiền đưa cho bà)
- À ra thế ?
Bà nhận tiền và nói tiếp :
- Ðể tôi sẽ viết biên lai ngay bây giờ cho anh . Anh chờ một phút.
Ông Tây nằm cạnh bàn đèn thuốc phiện , ngó Tuấn :
- Ðộc giả trung thành mua báo L’Argus Indochinois và trả tiền song phẳng như anh , thật là hiếm lắm . Có khi chúng tôi gửi liên tiếp ba lá thư nhắc nhở , họ mới chịu mua bưu phiếu gửi cho chúng tôi .
Người đàn bà An nam tiếp lời :
- Vì thế nên chồng tôi chán lắm, nhiều khi muốn giải nghệ. Làm báo ở Ðông Dương là một nghề rất bạc bẽo . Cũng may là có tôi ở đây để lên giây tinh thần cho nhà tôi (Ðúng câu của bà : Heureusement que je suis là pour remonter le moral de mon mari.)
Trong lúc ông chồng Pháp tiếp tục hút thuốc phiện , bà vợ An nam trẻ đẹp đứng dậy , lại bàn ngồi viết . Xong bà trao cho Tuấn một tấm biên lai nhận tiền mua báo 12 tháng , với tên ký rất đẹp :” Mme Amédée Clémenti “ .
Bấy giờ Tuấn mới biết chắc rằng ông Tây nghiền á-phiện đích là Amédée Clémenti , và người đàn bà An nam nói tiếng Tây giỏi kia là vợ chính thức của ông .
Tuấn rất phục bà vợ , nhưng rất thất vọng về ông chồng . Một nhà báo Pháp cự phách , thần tượng cả một thế hệ thanh niên cách mạng An nam, lại là một dân nghiện thuốc phiện đáng khinh .
Từ thuở bé , Tuấn đã ghê tởm những người nghiện thuốc phiện . Nguyên nhân là ở ngay trong làng của Tuấn có một người chú họ làm nghề buôn quế , thường đi tỉnh này tỉnh nọ , mà Tuấn rất ghét và luôn luôn xa lánh vì người ấy nghiện thuốc phiện lại còn đau bịnh “tim la“ . Mỗi lần về quê nghỉ hè . Tuấn đi dạo chơi trong xóm , hễ trông thấy “ông nghiền “ấy chỗ nào là Tuấn tránh đi chỗ khác . Cho nên Tuấn có thành kiến thực là ngây thơ rằng chỉ hạng người bần tiện , những kẻ ăn chơi , đĩ điếm , bọn thất học mới ghiền thuốc phiện .
Không ngờ ông chủ nhiệm L’Argus Indochinois , một nhà cách mạng Pháp , tranh đấu không ngừng cho nền độc lập của Việt Nam , một người mà Tuấn rất kính phục , tôn sùng mỗi khi đọc những bài xã luận đanh thép trên tờ báo Pháp-văn của ông , người ấy , hôm nay chính mắt Tuấn trông thấy , lại là một tên nghiền thuốc phiện như người chú đau tim-la ở nhà quê .
Ôi, Tuấn thất vọng xiết bao !
Dĩ nhiên là cảm tình của Tuấn đối với ông Amédée Clémenti bị sút đi nhiều , và Tuấn cứ thắc mắc về cá nhân của nhà báo cách mạng ấy . Trẻ tuổi và ngây thơ , Tuấn cứ tưởng rằng một người làm cách mạng , có những tư tưởng siêu việt tất nhiên là một người hoàn toàn đáng kính đáng quí , một vĩ nhân siêu quần bạt chúng .
Tuy nhiên Tuấn vãn tiếp tục đọc tờ báo L’ Argus Indochinois .
Nhờ đó mà Tuấn hấp thụ được rất nhiều tư tưởng mạnh mẽ , trong sạch , cao siêu , về chính trị , về cuộc tranh đấu chống bất công và áp bức , chống chủ nghĩa thực dân . Tuấn quí tờ báo đó cho đến nổi mỗi tuần nhận được nó , vào lúc 8 giờ sáng mỗi ngày thứ tư , do người phát thư Chà Và của nhà Bưu điện đưa đến tận nhà là Tuấn bỏ buổi học , nằm nhà đọc nghiền ngẫm cho hết bốn trang báo lớn . Cái đặc điểm của báo L’ Argus Indochinois là in trên giấy satiné xanh , trong lúc tất cả các tờ báo khác đều in trên giấy trắng .
Mỗi năm xuất bản một lần , và số nào cũng đăng toàn những bài cách mạng chửi Tây kịch liệt , công kích chính sách thực dân Pháp thậm tệ , và luôn luôn hăng hái hô hào cho An nam độc lập . Có một số báo đăng kín cả 8 cột trang nhất một bài dài của ông Amédée Clémenti, nhan đề là “ Le Parti de l’Indépendance Annamite” (đảng Ðộc Lập An nam ) . Trong bài ấy , ông chủ nhiệm kiêm chủ bút người Pháp đưa ra đề nghị thành lập một chính phủ Ðộc Lập An nam với những nhân vật sau đây :
- Tổng Thống : Phan Bội Châu
- Thủ tướng : Huỳnh Thúc Kháng
- Và các bộ trưởng : Dương bá Trạc , Nguyễn Thế Truyền , Nguyễn An Ninh , Phan Văn Trường v.v…
Toàn là những nhà cách mạng Việt Nam , danh tiếng nhất lúc bấy giờ .
Bài báo đó , làm xôn xao dư luận các giới trí thức và sinh viên cả Tây lẫn Nam , không những ở Hà Nội , mà cả ở Huế và Saigon . Sau đó , xẩy ra hai vụ khíến báo L’ Argus Indochinois càng quyết liệt đã kích phủ Toàn Quyền , phủ Thống Sứ và ty Mật Thám Bắc Kỳ .
Vụ thứ nhất là đêm thứ bảy tuần đó có người lẻn đến dán trên cổng tòa báo một tờ “cảnh cáo “ của một bọn người vô danh tự xưng là “ nhóm người ái quốc “ hăm giết Amédée Clémenti .
Ông chủ nhiệm báo L’ Argus Indochinois , làm bản kẽm tờ “ cảnh cáo ấy “ đăng lên báo , và nhất quyết rằng tác giả mạo danh “ một nhóm người ái quốc “ không ai khác hơn là viên Chánh Mật Thám Bắc Kỳ với sự đồng lõa của Phủ Toàn Quyền và Phủ Thống Sứ .
Vụ thứ hai , là một buổi sáng thứ bảy , ông Amédée Clémenti được tin đêm hôm trước người chef typo ( cai ê-kíp thợ sắp chữ ) của báo L’Argus Indochonois bị mẹ mìn dụ dỗ đem đi mất tích . Ông Clémenti loan tin ấy trên báo của ông , và cũng quả quyết rằng
“tên mẹ mìn “ấy không ai xa lạ hơn là Chánh Mật Thám Bắc kỳ .
Nên nói thêm rằng lúc bấy giờ Hà Nội đang xôn xao về phong trào “ mẹ mìn” . Mẹ mìn là những con mẹ đàn bà bình dân , đi lang thang các phố và dùng một thứ bùa ngải bí mật gì đó làm mê những người đi đường , khiến những ngươì này đi theo họ . Ðó là một hình thức bắt cóc bằng bùa ngải. Thường thường mẹ mìn hay bắt người lao động đem bán cho các “ Hội Ðồn Ðiền Cao Su và Hầm Mỏ “ Pháp để các Hội này chở họ qua Tân Thế Giới dùng làm nhân công rẻ tiền .
Nguyên nhân phong trào mẹ mìn, theo dư luận các giới cách mạng An nam là người Pháp mộ phu đồn điền khó khăn lắm , vì bị đi làm phu đồn điền ( các đồn điền cao su của Pháp ở Nam Kỳ ) , không khác nào bị đi đày khổ sai chung thân vậy. Ðó chỉ là một luồng dư luận ở Bắc Kỳ . Thỉnh thoảng mẹ mìn cũng bắt trẻ con đem đi bán ở nơi xa . Nhưng chưa ai nghe mẹ mìn bắt đàn bà con gái .
Phong trào mẹ mìn chỉ sôi nổi một dạo , rồi dần dần biến biến mất vì một số “mẹ mìn “đã bị “ lính mã tà “ , tức là lính mật thám theo rõi , bắt được quả tang , và bị tù.
Ðặc biệt về vụ anh cai thợ sắp chữ của báo L’ Argus Indochinois , thì dư luận cho rằng anh ta bị lính mật thám bắt , rồi phao tin là bị mẹ mìn . Có lẽ anh bị mật thám bắc cóc để điều tra về tờ báo L’ Argus Indochinois và ông Amédée Clementi .
Nhưng tờ báo này vẫn tiếp tục ra đều đều mỗi tuần , không bị lôi thôi hay thiệt hại gì cả .
Tuấn để dành báo L’ Argus Indochinois trọn bộ , không mất một tờ . Vẫn để các bạn bè truyền tay nhau xem , nhưng rồi Tuấn cũng cố đòi lại cho kỳ được , để giử đủ số . Nghỉ hè , Tuấn dồn hết mấy chồng báo ấy vào va li đem về quê , giấu kín trong cái rương lớn của gia đình , rương này mẹ của Tuấn dùng để cất những vật được coi như quí giá : tiền bạc , đồ đồng, đồ vàng, quần áo đắt tiền v...v…
Tuấn yên chí rằng cất mấy chồng báo L’ Argus Indochinois cũ trong cái rương rộng lớn và đóng kín này , thì chắc chắn không bao giờ mất được , để ngày sau , khi Tuấn lớn lên , sẽ coi lại và sẽ dùng làm tài liệu lịch sử .
Ba năm sau , Tuấn đang học ở Hà Nội , được giây thép trong nhà gởỉ ra báo tin cha của chàng qua đời . Tuấn vội vàng về quê . Ðến nhà thì gặp ngay lúc người ta đang liệm xác cha . Mẹ chàng vô tình đã lấy tất cả chồng báo L’Argus trong rương , trên 200 tờ , đưa hết cho mấy người dân làng dùng lót trong quan tài và đệm hai bên để cha chàng được nằm “ chặc chẽ ấm cúng “ trong hòm .
Trông thấy thế , Tuấn không dám phản đối . Nhưng , trong lúc chàng đau đớn khóc cha , gục đầu trên nắp quan tài , chàng khóc luôn cả 200 tờ báo quí của chàng sẽ bị chôn vùi với cha và sẽ mục nát thành ra đất bụi .



hết: Chương 39 .

bài tuấn, chàng trai đất việt. ( 37, 38 & 39 ) được đăng bởi: Người_Saigon với tựa đề tuan, chang trai dat viet. ( 37, 38 & 39 ) tại forum, các bạn có thế tham gia vào forum để có thể viết bài nhé

 

truyen cuoi theo van

Vần: < tất cả> A  B  C  D  E  F  G  H  I  J  K  L  M  N  O  P  Q  R  S  T  U  V  W  X  Y  Z 

ads

module block ngaunhien

Tuấn, chàng trai đất Việt .
Tuấn, chàng trai đất Việt .
Tuấn, chàng trai đất Việt .


Chương 14




1916-1920



-Học trò các trường Nhà Nước đã đông
-Chữ


Tuấn, chàng trai đất Việt ; Nguyễn Vỹ .( 34 , 35, 36 )
Tuấn, chàng trai đất Việt ; Nguyễn Vỹ .( 34 , 35, 36 )
Tuấn, chàng trai đất Việt.


Chương 34




1926



- Phong trào học trò mặc Âu Phục bằng vải nội hoá.
-


Công Tử Bạc Liêu
Công Tử Bạc Liêu



NHỮNG BÍ ẨN VỀ " CÔNG TỬ BẠC LIÊU "

Những câu chuyện về gia tộc Công Tử Bạc Liêu đã được nói tới khá nhiều, có chuyện ngày


X. Nhà Ngô (939-965) 26 Năm, Kinh Ðô Cổ Loa (Ðông Anh, Hà Nội).
X. Nhà Ngô (939-965) 26 Năm, Kinh Ðô Cổ Loa (Ðông Anh, Hà Nội).

11) Kiều Thuận, giữ Hởi Hồ (Cẩm Khê, Sơn Tây).
12) Phạm Bạch Hổ, giữ Ðằng Châu (Hưng Yên.

Ðinh Bộ Lĩnh là con nuôi của thủ lĩnh Trần Lãm,


Tuấn, chàng trai đất Việt
Tuấn, chàng trai đất Việt
Tuấn, chàng trai đất Việt


Chương 18





Một buổi sáng thứ ba, Tuấn-em đang ngồi chăm chỉ nghe thầy giáo lớp Năm giảng


Nguyễn Tiến Hưng : Khi đồng minh tháo chạy .
Nguyễn Tiến Hưng : Khi đồng minh tháo chạy .
P2 - Chương 5



THÂN PHẬN TIỂU QUỐC



Tự túc tự cường





Vào lúc tám giờ sáng ngày 28 tháng Giêng


Những giai thoại về Cao Bá Quát
Những giai thoại về Cao Bá Quát
Cá nuốt cá, người trói người

Chuyện kể khi còn bé, Cao Bá Quát ra tắm ở Hồ Tây. Đúng vào lúc vua Minh Mệnh tuần du ở ngoài bắc, nhà vua cũng đến


Dương Thu Hương : Đỉnh cao chói lọi .
Dương Thu Hương : Đỉnh cao chói lọi .
* Đây là chuyện thâm cung bí sử của 1 người mà Đảng CSVN cố tình dấu diếm và bưng bít >>>
- Xin mời theo dõi để biết đó là ai ?