tuan-chang-trai-dat-viet

Tuấn, chàng trai đất Việt .


Chương 15




Chú Ba và thím Ba chỉ có hai con trai , Tuấn và đứa em của Tuấn. Cậu bé này từ khi sinh ra vẫn chưa có tên.
Thời bấy giờ không có Hộ-tịch, lấy chồng lấy vợ khỏi cần làm giấy hôn thú , miễn có mời làng xã đến ăn uống , chứng nhận cho thế là được rồi. Sinh con cũng khỏi có giấy khai sinh. Chính tên "Trần anh Tuấn" cũng do thầy giáo đặt cho thằng Chuột hồi nó bắt đầu bị nhà nước bắt phải đi học.
Vì chú Ba thím Ba hiếm con , sợ đặt tên tốt đẹp cho con sẽ bị ma quỷ bắt mất , nên chú thím theo tục lệ thông thường lúc bấy giờ , tục lệ này được áp dụng không phải riêng trong giới dân nghèo , mà cả trong gia đình quan lại , quí phái nữa -- cứ tìm những tên rất xấu-xí , để ma chê quỷ hờn , không thèm đụng chạm tới đứa nhỏ.
Em của Tuấn , được đặt tên lúc ra đời là thằng Bọ Hung. Nhưng bây giờ nó đã được 9 tuổi. Tuấn muốn cho nó đi học trường Nhà nước ở tỉnh , và bàn với cha mẹ , đặt tên chữ cho nó. Chú Ba bảo Tuấn :"Hai anh em mầy mặt mũi giống nhau như đúc. Vậy tên mầy là Tuấn , thì tao cũng đặt cho nó tên Tuấn."
Thím Ba cũng gật đầu. Thím vừa nhai trầu bỏm bẻm vừa cười : "Ừ , sao mà thằng Bọ Hung nó giống mày như hai cái bánh in chung một khuôn vậy đó ! Nó giống từ cái mặt , cái tay , cái chưn , cho tới bộ đi , bộ đứng , giọng nói , giọng cười , giống hệt vậy hè ! Nhờ thầy giáo đã đặt tên cho mầy là Trần anh Tuấn , mầy mới làm nên danh giá , vậy thì cũng đặt tên cho em mầy là Trần anh Tuấn , để nó hưỡng cái lộc của mầy."
Tuấn cười bảo : "Thưa mẹ , như thế trùng tên sao được ?"
Chú Ba bảo : "Sợ trùng tên , thì mầy là Trần anh Tuấn , nó là Trần em Tuấn."
Thím Ba lại vồn vã tán thành ngay :
- Mầy là anh , thì tên mầy là Anh-Tuấn, nó là em thì tên nó là Em-Tuấn , phải đó.
Bọ Hung ngồi ngạch cửa , ở truồng trùng trục , với chỏm tóc trên đầu , cũng nhe răng cười :
- Con cũng muốn tên của con giống như tên anh Hai. Cái gì của con cũng giống anh Hai con mới chịu.
Cả nhà cười rộ lên. Trần anh Tuấn thấy thế , đành chìu theo ý muốn chung của cha mẹ và em.
Thế là thằng Bọ Hung từ đây được đặt tên chữ là Trần Tuấn. Nhưng về thực tế , người ta gọi nó là Tuấn-em.
Sáng hôm sau là ngày nhập học khởi đầu niên khoá 1919-1920, Phán Tuấn dắt Tuấn-em đến trường Pháp-Việt ( Ecole de Plein Exercice ) xin cho Tuấn-em vào lớp Năm.
Cũng kỳ nhận học này thầy ký Lê văn Thanh xin cho đứa em út của thầy vào học cùng lớp với Tuấn-em. Tên nó là Lê văn Lục , 7 tuổi , nhỏ hơn Tuấn em hai tuổi.
Trường Nhà Nước bây giờ đã đông học trò hơn mấy năm trước nhiều. Dân thành phố ở tỉnh , cũng như dân quê ở các phủ , huyện , các làng , đã lần lượt cho con đi học chữ Quốc ngữ và chữ Tây. Lý do thực tế là họ thấy uy quyền của chính phủ Bảo-hộ đã vững , cho con đi học , thi đỗ , làm việc ở các Toà , các sở , như Ký Thanh , Phán Tuấn ,v.v... vừa được tiền lương nhiều , lại vừa được danh vọng. Trái lại, họ cũng thấy rằng cựu-học đã tàn , chữ Hán đã bắt đầu bị chữ quốc ngữ và chữ Pháp thay thế.
Các ông Tú , ông Cử , ông Nghè , không được trọng dụng nữa.
Cùng năm 1919 , nhà Vua đã ban sắc-chỉ bãi bỏ các kỳ thi Hương , thi Hội ( Hán-học ) trong toàn cõi Trung Bắc kỳ. Hán học đã chính thức bị đào thải. Chính các quan Phủ , quan Huyện của cựu trào trước kia vẫn phản đối chữ Quốc-ngữ , chê nó không phải là chữ của Thánh-hiền , bây giờ cũng phải kiếm mời thầy giáo về nhà dạy cho các quan học A.B.C. Quan Huyện không những tự mình đi tỉnh mua bút , mực , giấy tây , để về nhà học và tập viết chữ quốc ngữ , mà quan còn bắt bà Huyện và các cậu con trai , các cô con gái của nhà Quan cũng phải học vần xuôi , vần ngược. Buổi sáng và buổi chiều , các Quan làm việc ở công đường , còn tiếp tục phê các đơn trương, giấy tờ bằng chữ Hán , nhưng buổi trưa , buổi tối , trong tư thất các quan phủ , quan huyện, vang lên tiếng bập bẹ đồng thanh , ồn ào , vui vẻ của các Quan và cả gia đình những chữ "dị kỳ" : Ba , bã , bâ , be, bê... ác , át , an, ang, áp , am...
Quan ông , quan bà , các cô ,các cậu , vừa tập đọc vừa cười rần-rộ. Các chú lính lệ đứng quạt hầu cho Quan Lớn và Bà Lớn , hoặc vòng tay đứng chờ lịnh Quan sai những công việc lặt-vặt , đều cười khúc-khích với nhau , ngơ ngơ ngác ngác chẳng hiểu chi cả.
Trong thời gian ấy , học trò lớp Năm các trường nhà nước đã thuộc vần chữ Quốc ngữ trong một tháng khai giảng đầu tiên , rồi tiếp đến học cửu chương bằng chữ Hán , để làm toán cộng , toán trừ , và học... "vocabulaire" tiếng Pháp !
Lên lớp Tư (lớp Dự Bị) đã học chữ Pháp nhiều hơn , ở lớp Ba (Sơ Đẳng) , học chữ Pháp nhiều hơn nữa , lên đến lớp Nhì và lớp Nhứt thì các môn học hoàn toàn bằng Pháp ngữ.
Song-song với phong trào học chữ quốc ngữ và chữ tây được thịnh hành và truyền bá rất nhanh chóng trong các từng lớp dân chúng , đời sống vật chất của xã hội Việt Nam , từ năm 1919 cũng đã thay đổi rất nhiều và rất mau lẹ.


hết chương 15.

bài tuấn, chàng trai đất việt . được đăng bởi: Người_Saigon với tựa đề tuan, chang trai dat viet . tại forum, các bạn có thế tham gia vào forum để có thể viết bài nhé

Người_Saigon,
Tuấn, chàng trai đất Việt


Chương 16




Tuy ở các tỉnh đèn điện chưa có , nhưng dầu hoả đã được bán khắp các phố , các chợ , trong những thùng thiết lớn từ Huê-Kỳ chở qua . "Đèn Huê-Kỳ", một loại đèn bằng thuỷ tinh , để thắp với dầu hoả, cũng được bán trong các tiệm buôn Tầu và AnNam từ tỉnh đến thôn qus6 . Chỉ nhà nghèo mới tiếp tục thắp đèn dầu phọng , hoặc dầu dừa , mở heo.
Tại tỉnh , hai bên đường phố , ban đêm chưa có đèn. Nhưng ở các ngã tư đã có những trụ đèn bằng sắt , đúc và chạm rất đẹp , ở bên Tây đem qua , trên ngọn có một thứ đèn chung quanh lồng kiếng , và thắp bằng hơi acétylène . Người ta thường gọi là đèn hơi đá , hay là đèn carbure . Cứ vào khoảng 7 giờ chiều , có một người lính vác chiếc thang trên vai , tay xách một cái đèn carbure, đi đến từng ngã tư thành phố , nơi có trụ đèn. Anh dựng thang vào trụ , rồi cầm một chiếc đèn leo lên thang. Gần đến ngọn , anh đưa tay lên mở một cửa kiếng , đặt đèn vào trong. Trong đèn đã có sẵn bốn năm cục đá carbure và nước. Anh đánh một que diêm ( loại diêm Hoa-Sen rất thông dụng , do một hãng Pháp sản xuất tại Hàm Rồng - Thanh Hoá ). Anh châm lửa kề miệng vòi của chiếc đèn , tự nhiên lửa phực cháy , do hơi acetylène trong đèn phựt ra.
Đèn carbure chiếu một ánh sáng xanh dịu , mát mẻ và soi xa một vùng chu-vi bốn năm thước. Xong rồi , anh lính trèo xuống , vác thang lên vai , tay còn xách năm , sáu chiếc đèn nữa , đi lần lượt đến những trụ đèn khác. Cứ cách bốn năm chục thước , nơi các con đường lớn , mới có một trụ đèn carbure.
Tất cả các đường khác đều tối om- Om.
Thường thường một chiếc đèn carbure ngoài đường cho cháy lâu được 4 tiếng đồng hồ thôi. Thành thử , chú lính coi về việc thắp đèn phải đi thay carbure mỗi đêm 3 lần , bất kể mưa gió , vào khoảng 7 giờ tối , 11 giờ khuya và 3 giờ sáng. Mỗi lần , anh phải vác cái thang đi và xách theo một thùng đá carbure, và một thùng nước lã. Lương của anh mỗi tháng 2 đồng bạc.
Riêng trong vườn Toà Sứ và chung quanh dinh thự Ông Sứ , treo các loại đèn bằng đồng , bóng đèn thắp gọi là đèn tempête giống như loại đèn của thợ mỏ.
Các nhà giàu sang , đều thắp đèn dầu hoả. Nhưng thắp rất là hà tiện , vì giá dầu đắt lắm - nó gần như là xa xí phẩm hồi 1910. Trong các gia đình người Pháp cũng thắp đèn dầu hoả.
Xe máy ( xe đạp ) chưa có ở các tỉnh. Nhưng xe kéo đã có nhiều hơn trước, hầu hết là xe bánh sắt. Đầu năm 1920, mới bắt đầu xuất hiện vài ba chiếc xe kéo bánh cao sụ Người dùng xe này trước nhất là Quan Tuần-Vũ , rồi đến các "Quan Tây". Chỉ có mỗi một mình quan Công Sứ là có chiếc xe hơi (auto) mà thôi , xe kiểu Delahaye . Xe kéo của Quan Tuần-Vũ do một chú lính kéo , chú mặc áo "kẹp nẹp", đội "nón gù", đi chưn không. Mỗi lần ông Tuần đi đâu , chú lính kéo xe coi bộ cũng hãnh diện , không kém gì Quan , ra vẻ "ta đây là người tay chưn của cụ Lớn".
Lê văn Thanh đã sắm được chiếc xe bánh sắt. Kể ra , thầy Ký có dư tiền sắm được chiếc xe bánh cao su , nhưng lúc đầu chàng còn e dè vì ngồi xe bánh cao su , giống như quan Tuần-Vũ , sợ vô lễ với quan Tuần chăng ? Nhưng đi làm việc ở Toà Sứ , ngồi trên xe kéo bánh sắt cũng đã được hãnh diện lắm rồi. Chàng vẫn muốn làm cao hơn Trần anh Tuấn , thầy Phán đầu toà mà ngày hai buổi vẫn lóc-cóc đi bộ , mang đôi giầy Hạ xập-xệ cũ mèm.
Ngoài xe kéo ra , không còn phương tiện lưu thông hoặc chuyên chở nào khác. Thường dân đi xe kéo bánh sắt , các Quan Lớn đi xe kéo bánh cao su . Tuy nói là thường dân , nhưng cũng chỉ có hạng thường dân khá giả , nhà giàu hoặc các thầy Thông , thầy Ký , mới có tiền đi xe kéo bánh sắt. Còn hầu hết nhân dân đại chúng đều đi bộ. Họ đi bộ từ làng này sang làng khác , từ huyện này sang huyện kia , từ tỉnh này sang tỉnh nọ. Họ leo đèo vượt núi, lội bến băng sông , đầu đội nón lá, chưn đi không , dưới trời nắng chang-chang , hoặc trong đêm khuya mờ-mịt.
Mỗi kỳ nghỉ hè , người ta thấy những đám thanh thiếu niên học sinh trọ học ở tỉnh trở về quê nhà cách xa hàng 40,50 cây số.
Vài ba ngày sau buổi học cuối cùng , thường là những đêm rằm , trăng sáng vằng-vặc, các em rủ nhau từng đám độ 5, 10 trò từ chín mười đến mười hai, mười ba tuổi quê quán cùng một huyện hay một phủ. Chúng hẹn gặp nhau tại một nhà trọ nào đó , sau khi cơm nước no-nê , và khởi hành lúc thành phố bắt đầu "đỏ đèn". Mỗi trò xách một va ly áo quần sách vở. Muốn tiện lợi , đỡ mỏi tay xách , vài ba trò rủ nhau mượn một đòn gánh khá dài , cột chung "va ly" thành một chùm đeo lủng lẳng ở giữa , và vài trò thay phiên nhau khiêng trên vai , đi từng chặng đường. Dưới ánh trăng xanh , trên đường cái quan dài thăm thẳm , hai bên là đồng ruộng mênh-mông nhái kêu ột-ệch, các em thiếu niên vừa đùa nghịch , chuyện trò cười rỡn để quên bớt nỗi đường xa vạn dặm.
Đường quan-lộ vắng tanh vắng teo , không một bóng người lai vãng. Đêm đã gần khuya , các em đi hơn mười cây số , đã mệt mỏi , tiếng cười tiếng nói thưa lần , và bắt đầu hoang mang sợ sệt... Tất cả đều lặng lẽ , âm thầm...
Một vài trò mang quốc , cũng sợ cả tiếng quốc , nên xách quốc trên tay.
Theo lời các bậc cha mẹ đã từng căn dặn trước , mỗi trò đều có đem theo trong mình một con dao bằng sắt , hoặc cầm một nhánh dâu ( loại dâu cho tầm ăn ) , để tự vệ trong lúc đi ngang qua nhiều nơi có "ma". Những khu rừng rậm , những khóm cây , những gò hoang có nhiều mồ mả , những cầu cống... đã nổi tiếng là có nhiều "ma quái" , "yêu tinh". Cha mẹ thường dặn các trò :"Hễ gặp ma hiện hình ra , thì con lấy "roi dâu" quất nó , nó sẽ chạy mất ! Không , thì con đái ra quần, lấy nước đái lau trên mặt , thì Ma , Yêu, không dám hớp hồn con... Con có dao bằng sắt , Ma không dám tới gần con... ".
Đó là những phương pháp trừ ma rất thông dụng mà em bé học trò nào cũng biết , và cũng phòng thủ sẵn sàng trong khi đi học xa , hoặc đi về nghỉ hè , và toàn là đi bộ.
Thời kỳ ấy , "ma quỷ" nhiều lắm. Ở khắp các nẻo đường , các gốc cây, các nghĩa địa , các bến sông , các am miếu , ở ngay trong tỉnh thành đều có vô số những chổ có ma . Nhưng sự thực , nghe đồn đải về ma thì nhiều , mà chưa ai gặp một con ma , hay trông thấy một con ma lần nào.
Các em học sinh đi bộ suốt đêm như thế , cho nên lúc "gà gáy sáng" , hoặc hừng đông thì vừa đến huyện , rồi chia tay ai về nhà nấy. Có kẻ còn đi năm , bảy cây số nữa.
Học trò nhà nước từ khoảng 1910 đến 1920 , là con cháu các ông Hương , ông Xã , một số ít nhà giàu , và các quan ở Phủ Huyện và ở tỉnh. Thanh niên nhà nghèo hầu hết đều lo làm ruộng , hoặc các nghề thợ thuyền , chài lưới.
Ngay ở trường làng , học hành không tốn kém chi cả , cũng thường chỉ là con các nhà khá giả mới cập vở đến trường học ABC. Con nhà giàu và con cháu các ông Tú , ông Cử , ông Nghè , còn trung thành với đạo lý Khổng-Mạnh , vẫn chưa theo phong trào Tây-học. Phần đông ở nhà hưỡng thú "điền viên": đá gà , uống rượu , đi bẫy chim , câu cá , đánh cờ... Một số xoay sang học nghề thuốc Bắc và xem số Tử Vi.



hết: Chương 16,
__________________
************************************************** ***********

Quê người nhìn ánh sao xa .

Chập chờn tôi thấy quê nhà năm xưa .


* (Both of us are victims of circumstance)


Người_Saigon,
Tuấn, chàng trai đất Việt


Chương 17




Ban ngày đường quan lộ cũng rất vắng người. Vì xe cộ không có, trừ thỉnh thoảng một vài chiếc xe kéo bánh sắt uể- oải, chậm chạp còn tệ hơn xe ngựa ngày nay . Xe hơi thì mỗi ngày chỉ có một chiếc từ trong Nam chạy ra, một chiếc từ "miệt ngoài" chạy vào : đó là hai chiếc "xe thơ" của một hãng Pháp, tên là S.T.A.C.A, chở hành khách sang, và chở thư bưu điện. Chiếc xe hơi chạy vùn vụt trên quan lộ, kêu như sấm dậy, mỗi ngày một lần, là cả một biến cố quan trọng hàng ngày. Hai bên đường dân chúng sợ sệt, lật đật tránh xa, hai bên đồng ruộng trâu bò hoảng kinh chạy tán loạn.
Ông Tuần Vũ ( tỉnh nhỏ ) hay là ông Thống Đốc ( tỉnh lớn ) là vị "Quan Lớn An Nam" đầu tỉnh, mỗi lần ngồi trên chiếc xe kéo bánh cao su, đi đâu xa ngoài tỉnh, cũng là cả một biến cố lớn lao vậy. Có lính lệ ( lính hầu trong dinh quan ) đi trước dẹp đường. Tay luôn luôn cầm chiếc roi mây, và thái độ hung hăng, hắn rất hách dịch, đối với hết thẩy mọi người hai bên hàng phố.
Nhửng người đi đường đều phải né tránh ra hai bên đường, để trống cả một quãng đường dài trước mặt Quan Lớn, không được có một người qua lại. Người lính kéo xe quan, bước chậm chậm ; như chở Quan đi dạo mát. Một người lính theo sau, giương cao một cái lọng che trên đầu Quan, mặc dầu trời đã gần tối.
Năm 1920, nhân dịp ngày giổ đức Khổng-tử, Quan Tuần có gửi giấy mời Quan Đốc học trường tỉnh và lần đầu tiên Quan yêu cầu cho học trò trường Nhà Nước đi dự lễ.
Tuấn-em về nhà thưa lại với anh Hai và cha mẹ, để được tụ họp với học trò cùng lớp tại nhà thầy giáo lớp Năm, đúng 7 giờ tối, theo lịnh của quan Đốc học. Học trò lớp nào phải tụ họp tại nhà thầy giáo lớp ấy. Tuấn-em ăn cơm vội vàng, rồi được mẹ thay cho quần trắng mới, áo dài đen mới, để đi dự lễ Đức Thánh Khổng.
Đến nhà thầy Trợ giáo, gặp đông đủ bạn bè, đợi thầy giáo ăn cơm xong rồi thầy dẫn học trò đi bộ đến Văn Miếu ( đền thờ đức Khổng Tử ), cách tỉnh lỵ 3 cây số. Phải đi đò qua con sông lớn. Sông thì rộng, nước chảy mạnh, trời thì tối, con đò thì nhỏ, mà học trò thì đông, phải qua đò một lượt với thầy, nên các em sợ té la khóc om sòm ! Thầy giáo rầy la bằng tiếng Tây :"Silence! "(im ) . Qua bên kia sông, còn phải đi bộ hơn hai cây số nữa mới tới Đền thờ Đức Khổng Tử. Đến đây, toàn thể học trò Nhà nước tụ họp lại 200 cậu và năm thầy Trợ giáo... Không có chỗ ngủ, tất cả phải nằm hai bên lề đường, và trong các đám mía kế cận, đợi đến 5 giờ sáng mới bắt đầu tế lễ.
Gà lối xóm mới gáy một hồi, trời còn tối mù tối mịt, nhưng nghe chuông trống nổi lên, các thầy giáo vội vàng thức dậy gọi học trò tụ họp trước cổng Đền. Lớp nào đứng sắp hàng riêng lớp ấy, dưới sự chỉ dẩn của giáo viên. Hầu hết học sinh còn buồn ngủ, vì không có nước rửa mặt nên nhiều cậu chưa tỉnh hẵn, vừa đứng vừa ngủ gật.
Riêng lớp của Tuấn em, thầy giáo cầm cây đèn bạch lạp nhìn vào tờ giấy danh sách để gọi tên, thì thiếu mất bốn trò. Bốn em này còn ngủ trong đám mía, thầy bảo Tuấn em và hai trò nữa kiếm nhưng trời tối quá, không tìm thấy. Vừa có lịnh quan Đốc học truyền cho các thầy dẫn học trò sắp hàng hai đi vào trước đền. Chiêng trống lại nổi dậy, đèn đuốc sáng trưng. Cuộc tế lễ bắt đầu.
Các quan Tỉnh, quan Phủ, quan Huyện, các thầy Đề lại, tất cả các công chức Nam triều mặc triều phục đứng cúng, kẻ hàng trước, người hàng sau, tùy theo trật tự phẩm hàm của mỗi quan. Sau cùng đến các thầy giáo và học trò. Theo lời thầy dặn, hễ nghe tiếng hô :"Cúc cung hưng... bái" và tiếng chuông trống đệm theo, các quan đứng trước lạy, thì học trò cũng phải bắt chước sụp xuống lạy. Nghe tiếng hô :"Hưng thì đứng dậy, "Bái" thì sụp xuống lạy v.v... đến khi "Hưng bình thân", thì đứng thẳng người hết lạy.
Tuấn em còn đang giấc ngủ, chưa tỉnh hẳn, khi sụp xuống lạy lần đầu, Tuấn ngủ luôn. Mãi đến khi tế xong, thầy giáo lấy chân đá mạnh vào mông đít Tuấn, Tuấn mới giật mình, lóp ngóp bò dậy, theo đám đông ra về.
Thầy giáo và học trò lại kéo nhau đi bộ 3 cây số về tỉnh và đi đò sang sông.
Đến ngã tư cửa Tây, mặt trời đã lên cao "nữa chặn đòn gánh "( 7 giờ sáng ).Học trò nghe phía sau lưng có tiếng lính la hét dẹp đường và tiếng chuông, tiếng trống, tiếng kèn bát âm, liền đứng lại để coi "quan Tuần-Vũ".
"Quan Lớn" chủ tế lễ Đức Khổng Tử, trở về tỉnh, cũng đã gần đến ngã tư . Đường cái quan đã được hai chú "lính lệ" tiền phong xua đuổi, dọn dẹp trống rỗng, không có một người dân qua lại. Vài ba chú cu li xe kéo bánh sắt đã lật đật kéo xe chạy sang các ngả đường khác. Những người đàn bà đi chợ, đàn ông làm thợ, đi buôn bán, đi "làm việc" các sở, đều phải tránh sang một bên, để đường cho "Quan Lớn" đi.
Trước tiên là sáu người lính bận áo kẹp nẹp, cầm cờ đuôi nheo đi hai bên, rồi đến lính khiêng chuông, lính khiêng trống lớn, lính cầm trống nhỏ, tám người lính thổi nhạc bát âm... Quan lớn ngồi trên chiếc xe kéo bánh cao su, có lính che lọng, lính che tàn, lính cầm cờ, lính bưng hộp trầu ( vì quan lớn nhuộm răng đen và ăn trầu ), lính bưng điếu thuốc trà v.v... ( thuốc lào -tiếng Bắc, ở Huế và Trung gọi là thuốc trà ).
Thỉnh thoảng quan lớn truyền lịnh đem hộp trầu cau đã tiêm sẳn, hoặc đem bình điếu trà đến, để quan lớn ăn trầu hút thuốc, thì cả đoàn lính hầu hạ tùy tùng đều phải đứng lại một lát. Quan lớn ăn hút xong truyền lịnh đi, mới lại tiếp tục đi.
Xe kéo quan lớn đi qua các đường phố, hai dãy tiệm buôn "các chú" ở hai bên đường đều thi nhau đốt pháo mừng quan, và mặc áo rộng đứng trước cửa cúi đầu cung kính chào quan. Quan lớn ngồi trong xe kéo, làm nghiêm không chào lại.
Lúc xe quan Tuần vũ đi ngang qua mặt Tuấn em và một lũ học trò đứng xem trên lề đường. Tuấn chỉ vào mặt quan và nói to với mấy đứa bạn nó :
- Mặt ông lớn cũng có ghèn, tụi bây ơi !
Ông lớn quay lại trừng mắt ngó Tuấn, Tuấn và mấy đứa bạn sợ ông Lớn sai lính bắt, lật đật chạy biến mất trong đám đông người đứng coi chật ních trước các hè phố...
Chúng chạy về nhà lấy sách vở đến trường... Hôm ấy học trò đi trể khỏi bị phạt.


 

truyen cuoi theo van

Vần: < tất cả> A  B  C  D  E  F  G  H  I  J  K  L  M  N  O  P  Q  R  S  T  U  V  W  X  Y  Z 

ads

module block ngaunhien

Lịch Sử Việt Nam - phần 2
Lịch Sử Việt Nam - phần 2
Lịch Sử Việt Nam - phần 2


http://www.vietlist.us/Images_history/11_tqnd.jpg

11. Tích Quang, Nhâm Diên: Hai ông quan Thái thú có công với nước ta. Ông


Tuấn, chàng trai đất Việt  ( 31. 32 & 33 )
Tuấn, chàng trai đất Việt ( 31. 32 & 33 )
Chương 31




1926


- Lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh do học sinh tổ chức lén trên núi .
- Các giáo sư diễn tuồng cải lương


Chuyện tình cảm động của Hải Thượng Lãn Ông
Chuyện tình cảm động của Hải Thượng Lãn Ông
Đỗ Hồng Ngọc




Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720 - 1791) quê ở làng Liêu Xá , huyện Đường Hào, Hải Dương...

(nay là


VII. Nhà Tiền Lý Và Nhà Triệu (544-602)
VII. Nhà Tiền Lý Và Nhà Triệu (544-602)
VII. Nhà Tiền Lý Và Nhà Triệu (544-602) 58 Năm, Quốc Hiệu Vạn Xuân, Kinh Ðô Long Biên.

1. Lý Nam Ðế (Lý Bôn) (544-548):
Lý Bôn tức Lý Bí, quê ở Long


VI. Thời Kỳ Ðấu Tranh Chống Phong Kiến  Bắc Lần Thứ Hai
VI. Thời Kỳ Ðấu Tranh Chống Phong Kiến Bắc Lần Thứ Hai
VI. Thời Kỳ Ðấu Tranh Chống Phong Kiến PChương Bắc Lần Thứ Hai (34-543) : 500 Năm. Bà Triệu Khởi Nghĩa (248).

Nhà Ðông Hán mất, nước Trung Hoa phân làm


Nguyễn Vỹ ; Tuấn, chàng trai đất Việt .
Nguyễn Vỹ ; Tuấn, chàng trai đất Việt .
Nguyễn Vỹ



Tuấn, chàng trai đất Việt


Lời Tựa


BẠN ĐỌC THÂN MẾN!

Bộ sách này không phải một tiểu


VIII. Thời Kỳ Chống Phong Kiến Bắc Ðô Hộ Lần Thứ Ba
VIII. Thời Kỳ Chống Phong Kiến Bắc Ðô Hộ Lần Thứ Ba
VIII. Thời Kỳ Chống Phong Kiến PChương Bắc Ðô Hộ Lần Thứ Ba (603-939) 336 Năm

Do Lý Phật Tử hèn nhát đầu hàng, nhà Tùy chia đất Giao Châu thành 3


Giai thoại cha ông : Nguyễn Quán Nho .
Giai thoại cha ông : Nguyễn Quán Nho .
- Nguyễn Quán Nho (1637 - 1708) người làng Vạn Hà, huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hóa. Ông là danh thần đời vua Lê Huyền Tông, nổi tiếng về lòng thương dân và