nguyen-vy-tuan-chang-trai-dat-viet-phan-25-26-amp-27

Chương 25




1920 – 1924

-Tình hình chính trị tổng quát ở toàn xứ , sau những vụ Phan-xích-Long ở Saigon (1916), vụ Duy-Tân ở Huế (1916) , vụ Đội Cấn ở Thái Nguyên (1917) và Phạm Hồng Thái ở Sa Điện (1923)
-Những ngày tàn của Nho học.
-Một lớp học chữ Hán sáng thứ Năm.
-Các cụ nhà Nho còn tôn kính " Hoàng - Thượng ".
-Một lễ "Bái mạng" trước Hành Cung , có sự chứng kiến của các ông Tây bà Đầm.
-"Văn minh khắp cả hoàn cầu , ông sư cũng cúp cái đầu 3 xu ".
-Sinh viên Cao Đẳng Hà Nội đã bắt đầu mặc đồ Tây trước tiên.
- Đá kiện , trò chơi phổ thông nhứt của học sinh
Từ 1920 đến 1924, tình hình chính trị tổng quát ở toàn cõi An-nam có thể gọi là yên ổn . Từ thành thị đến thôn quê , uy quyền của nước Pháp đã được triệt để tôn trọng , địa vị của chính phủ thuộc địa đã vững chắc , không có gì làm lay chuyển được.
Tất cả các cuộc vận động cách mạng trong nước hoặc âm mưu khởi nghĩa , đều đã bị thất bại . Ở Saigon , vụ Phan xích Long đánh phá Khám lớn năm 1916, ở Bắc Kỳ , vụ Đội Cấn và đảng Việt Nam Quang Phục đánh chiếm tỉnh Thái Nguyên năm 1917 , cho đến cả ở Quảng Châu , bên Tàu , vụ Phạm Hồng Thái ném bom ở tô giới Sa Điện toan giết viên Toàn quyền Merlin năm 1923 – không một cuộc hoạt động nào trên kia thành công , và tất cả những nhà ái quốc khởi xướng đều bị đàn áp , bị bắt , bị giết , hoặc bị đày đi xa . Trong toàn xứ An-nam , hình như không còn ai dám rục rịch nổi dậy đánh Tây , hoặc hô hào cách mạng nữa.
Nước Pháp lại vừa thắng nước Đức trong cuộc Thế giới Đại chiến 1914-1918 , và cứ hàng năm , đến ngày 11 tháng 11 dương lịch là chính phủ thuộc địa ở Đông Dương tổ chức ngày lễ Chiến Thắng ( họ gọi là “ Fête de la Victorie") rất long trọng , uy nghi , hùng hổ , vừa để mừng một ngày kỷ niêm vẻ vang nhất của họ , vừa để nhắc nhở cho dân An-nam rằng nước Pháp rất hùng cường , vĩ đại , "văn minh bậc nhất trên tòan cầu " . Người dân An-nam lúc bấy giờ cũng nhìn nhận rằng nước Pháp thật là văn minh , hùng cường hơn nước ta trên rất nhiều phương diện.
Phái nhà Nho "từ Tú-tài lên đến Tiến sĩ , Phó Bảng " mà có tinh thần chống Pháp , đã tham gia trực tiếp các phong trào cách mạng từ 1916 , thì đã bị giết chết hoặc đi Hải ngoại , phần đông sang Nhật , sang Tàu . Một số bị đày ra Côn Lôn , nhưng lúc mãn hạn tù trở về làng xã , hầu hết là trước 1924, đều lo an-thường thủ phận , không hoạt động gì nữa cả . Một số đông các cụ mở trường tư ngay tại nhà dạy chữ Nho và chữ Quốc-ngữ cho một ít học trò nhỏ để vui qua ngày tháng , hoặc làm nghề Đông-Y , xem mạch , bốc thuốc , hoặc chuyên về khoa bói , quẻ Dịch , quẻ Lục-nhâm , tử-vi , tướng-số , v.v…theo các sách Tàu.
Còn phái nhà Nho thụ động , không có tham gia một cuộc hoạt động chính trị nào cả , thì hoàn toàn ngưỡng mộ người Pháp và triệt để ủng hộ chính sách thuộc địa , triệt để trung thành với Hoàng Đế An-nam . Những ông Tú-tài có đôi chút thế lực , đem tiền lo lót -- không có tiền thì bán đất bán ruộng -- để được làm một chức quan nho nhỏ như Đề-lại , Thư-lại . Mấy ông Cử nhân thì được bổ đi Tri Phủ , Tri Huyện , Tri Châu . Một số Tú-tài , Cử Nhân khác ở nhà làm ruộng , tham gia vào việc làng xã , hoặc sống một cuộc đời nhàn hạ , uống rượu , ngâm thơ , làm đối, làm liễn dùm cho các người ít học , và được dân làng trọng vọng như một bậc danh nhân ở địa phương.
Tuy từ năm 1919 không còn Thi Hương, Thi Hội nữa , và Nho-học đã chính thức bãi bỏ ở toàn xứ An Nam , bị chữ Pháp và chữ Quốc-ngữ hoàn toàn thay thế , nhưng chính phủ Nam triều vẫn còn dùng chữ Hán một cách mặc nhiên , người Pháp không ngăn cản . Chữ Nho bị bỏ , chứ không bị cấm . Cho nên, bên Hành Chính Thuộc Địa , các quan Tây thì dùng chữ Pháp ; còn bên Hành Chính Nam Triều các quan An-nam vẫn dung toàn chữ Nho . Các giấy tờ , công văn , từ Bộ về Tỉnh , từ Tỉnh về Phủ , Huyện , từ Phủ , Huyện về làng , đến năm 1924 vẫn còn áp dụng chữ Nho . Ngay ở các trường Tiểu học Pháp Việt, mỗi tuần vẫn còn 2 giờ học chữ Nho buổi sáng thứ Năm.
Theo chương trình tiểu học , lớp Nhất cũng như lớp Nhì A, Nhì B, và lớp Ba , đều phải học hai giờ chữ Hán sáng thứ Năm . Thầy dạy chữ Hán cho lớp Nhất của Tuấn học là một ông Tú-Tài , tên là ông Tú Cẩn . Một hôm đang học , bỗng có thanh tra người Pháp , tên là Délétie, ở Huế đi thanh tra các trường đột ngột bước vào lớp học , không báo tin trước cho thầy giáo và học trò biết trước . Ông Tú , khăn đen áo dài đen như thường lệ , đang đứng nơi bảng đen giảng nghĩa bài học về con Hoàng-ngưu ( con bò ) . Ông dạy theo nghĩa từng tiếng một theo lối nhà Nho :
-"Kỳ nhục sở thực , Kỳ nhũ sử ẩm", nghĩa là "Sửa thịt khá ăn, sửa sữa khá uống".
Ông Délétie mà ai cũng biết là giỏi chữ Nho, trố mắt hỏi học trò :
- Các anh có hiểu lời giảng của ông Thầy không ?
Dĩ nhiên , học trò chẳng ai hiểu cả . Ông Tây hỏi ông Tú :
- “ Sửa thịt khá ăn , sửa sữa khá uống “ là nghĩa làm sao ?
- Dạ bẩm quan lớn , kỳ là sửa , nhục là thịt , khả là khá , thực là ăn …kỳ là sửa , nhũ là sữa …ông Tây cười xòa , rồi bỏ lớp đi ra.
Tuy nhiên , các ông Tú , ông Cử cuối cùng của mùa Hán-học đã suy tàn , còn có thể hãnh diện là đã có lần được lĩnh áo mão của Vua ban hồi các ông mới thi đậu , mặc dầu những ngày vinh quang ấy đã khá xa rồi.
Họ còn tôn kính Vua , thờ Vua , và luôn luôn , dù ở trong hương thôn , mỗi khi có dịp gì nói đến Vua , họ đều cung kính suy tôn Hoàng Thượng, hay là “Đức Hoàng Thượng".
Năm 1924, những ngày mừng vua Khải- Định được 40 tuổi ( lễ Tứ-tuần ) . Tuấn-em có chứng kiến một buổi lễ phi thường , tại "Hành Cung" ở tỉnh . Lễ này được tổ chức khắp tất cả các tỉnh Trung-kỳ và Bắc-kỳ , trừ ra Nam-kỳ là "nhượng địa" của Pháp , không có . Tỉnh nào cũng có một Hành-Cung , là một gian nhà kiến trúc như một Cung điện nhà Vua , phía trước có sân Rồng lát gạch , và một cổng lớn có chạm rồng gọi là "Ngọ Môn".
Theo nguyên tắc , Hành Cung là tượng trưng Cung Điện của Hoàng Đế , khi nào vua đi kinh lý đến tỉnh , sẽ "ngự" nơi đây . Nhưng ít khi Vua đến . Vua ngự trị ở Huế , không bao giờ "Ngự du" đi đâu xa.
Cho nên Hành cung vẫn bỏ trống luôn luôn giữa ba bức thành bao bọc , cỏ mọc đầy sân , không có ai gìn giữ quét dọn , tuy là ở đối diện ngay trước dinh quan Tuần-vũ , hay quan Tổng Đốc , hai bên con đường chính nối dài từ Cửa Đông đến Cửa Tây . Chủ nhật , thứ Năm , bọn học trò tinh nghịch như Tuấn-em , thường rủ nhau đến đây chơi . Bởi không có lính canh gác , nên tui. con nít này tha hồ "ngự trị" trong Hành cung đào lỗ đánh bi , đánh đáo , và lấy gạch , lấy phấn viết , vẽ bậy bạ khắp các vách tường.
Thỉnh thoảng có trò đau bụng , ngồi làm bậy ngay một nơi góc tường của Hành cung , mấy trò khác bịt mũi cười la rất là náo động . Các chú lính lệ bên dinh quan Tuần bận uống rượu và đánh bài tứ sắc , và quan Tuần chễm chệ hút thuốc lào trong văn phòng có một chú lính đứng quạt hầu , không một ai hay biết lũ ôn con làm gì bên Hành cung.
Thế rồi , một buổi sáng Chủ nhật , Tuấn với mấy đứa bạn rủ nhau đến Hành cung để đánh bi , bổng thấy cờ xí treo chung quanh , và lính Khố Vàng ( của quan An-nam ) , lính Khố Xanh ( của quan Tây) mặc lễ phục toàn màu trắng sắp hang đứng chật ních hai bên sân rồng . Chiếu hoa trải kín hết sân , và Cung điện quét dọn sạch sẽ , kết hoa lá , treo cờ Pháp , cờ An-Nam , giữa cung có đặt một "ngai vàng" . Đó là một cái ghế fauteuil bằng mây , sơn màu vàng – kê trên một bục gỗ sơn màu đỏ.
Dân chúng không được vào trong , đứng đông nghẹt phía ngoài thành ( thành chỉ cao độ 1 thước ) chen lấn nhau để xem chốc nữa các quan lạy Hành cung , mừng lễ Tứ-tuần của Hoàng đế Khải- Định . Người ta đã cấm con nít không được vào trong , nhưng Tuấn cũng len lỏi thế nào để vào cho được , nhờ nó bé nhỏ và nó đứng nấp sau lưng một người lính khố xanh , cậu của nó.
Các quan An Nam đã lần lượt kéo đến rất đông và đã sắp hạng trên sân , tùy theo phẩm trật . Các quan nhỏ từ Thất phẩm , Lục phẩm , các thầy đề lại , các ông tú-tài , cử nhân đều mặc áo rộng xanh , đứng phía sau cùng , gần cửa Ngọ môn . Các quan Huyện , quan Phủ , đứng mấy hàng trước . Phía trước hết , các quan Án sát , Lãnh binh , cả các quan đã về hưu râu tóc bạc phơ , và riêng hang đầu là quan Tuần-vũ hay quan Tổng đốc . Mấy ông quan từ Ngũ phẩm trở lên đều mặc triều phục , mang hia , đội mũ cánh chuồn.
Đúng 9 giờ , các "quan Bảo Hộ" từ bên tòa Sứ đi xe hơi đến trước cổng Ngọ môn , được quan Tuần vũ đón chào và mời vào Hành cung . Tuấn nhận thấy có ông Sứ , ông Phó Sứ , ông Tây Kho bạc (ông này bị một chân thọt , thay bằng chân gỗ , học trò đặt cho ông biệt hiệu là “ông Tây Point-et-Virgule” , vì mỗi khi ông đi , chân thật bước một bước thì chân gỗ hất tới , y như thể một dấu chấm và một dấu phết ). Ngoài ra , còn có ông Giám binh đồn lính Khố xanh , ông Tây Lục-lộ, ông Tây GIây thép , ông Tây Thương chánh, ông Kiểm lâm , ông Đốc-tờ , ông Cò , với mấy bà Đầm . Tất cả đều được quan Tuần vũ , chủ tỉnh An Nam , mời vào Hành cung . Họ đứng một dãy cách "ngai vàng" độ ba, bốn bước.
Chuông trống nổi lên , có một ông quan làm xướng ngôn viên , hô lên từng tiếng , nhịp với tiếng kèn tiếng trống theo trong nghi lễ . Các quan An-nam sụp xuống lạy . Nói là lạy Vua để mừng "Thánh Thọ" 40 tuổi , nhưng kỳ thực là lạy mấy ông Tây bà Đầm đứng trong Hành cung nhìn ra , chứ cái ngai vàng để trống có Hoàng Thượng nào “Ngự Tọa" đấy đâu . Các quan An Nam cúi lạy liên tục bốn lạy , đồng một loạt với nhau , trong lúc lính Khố xanh , Khố vàng bồng sung chào . Các “Quan Bảo hộ " và các bà Đầm đứng gần bên chiếc ngai vàng nhìn ra với cặp mắt tò mò , ngạc nhiên . Tuy họ vẫn giữ lễ độ đứng đắn nhưng không phải là họ không lộ ra đôi chút kiêu hãnh , khinh khi.
Tuấn-em nhìn thấy trong đám các ông Cử , ông Tú sụp lạy ở đằng sau cùng , có cả ông Tú Cẩn , là thầy dạy chữ Nho của Tuấn mỗi buổi sáng thứ Năm . Ông mặc chiếc quần trắng dơ bẩn và chít áo rộng xanh bạc màu , rách một miếng to tướng nơi cùi chỏ.
Trước khi đi Qui-nhơn để thi lên các lớp Trung-học Pháp-Việt ( Collège Complémentaire francaise-indigène). Tuấn-em muốn hưởng cho hết thời niên thiếu trong ba tháng nghỉ Hè trong năm 1924. Vì bằng Tiểu học “ Primaire” có thể được coi như gần dứt thời kỳ niên thiếu của chàng trai đất Việt , thời kỳ mà Tuấn-em đã sống đầy đủ , hăng hái , đôi mắt mở to, hai tai vểnh rộng , để nhìn thấy và nghe ngóng bao nhiêu những mới lạ , trong lúc giao thời của Đất Nước đang nô nức ùa theo phong trào mới của “Văn minh tiến bộ".
Như các bạn đã biết , phong trào ấy đã bồng bột từ 1910, thế hệ của Trần anh Tuấn – bây giờ là Phán Tuấn – cho đến 1924. Một thời đại mà ngày nay chúng ta có thể gọi là thời kỳ thiếu niên của một nước An Nam mới , đang dần dần cởi bỏ những lốt cũ kỹ nghìn xưa.
Tuấn-em sung sướng và có thể có đôi chút hãnh diện là đã được may mắn sinh nhằm thế hệ này . Chàng khôn lớn cùng một lượt với xứ sở đang vươn lên song song với những tiến triển nhanh chóng của dân tộc mà nếp sống vật chất và tinh thần đã khác nhiều so với thời kỳ trước Thế giới Đại chiến thứ Nhất , mở đầu Thế kỷ.
Nhận xét thật đứng đắn , ta thấy rằng tất cả mọi biến đổi trong thời kỳ ấy đều xảy ra một cách tuần tự lặng lẽ , gần như tự nhiên , không có một áp lực nào thúc đẩy , và cũng không có một trở ngại nào . Không phải một cuộc cách mạng xã hội , mà chỉ là một định mệnh , một sự kiện dĩ nhiên của Lịch sử mà chính những nhân vật đương thời , dù muốn dù không , cũng mặc nhiên công nhận , sẵn sàng để bị lôi cuốn theo.
Có điều nên lưu ý , là nếu “Đông và Tây không gặp nhau được" như lời của nhà văn Anh-quốc , Rudyard Kipling – và điều đó cũng đúng một phần nào , -- thì ta ngạc nhiên thấy rằng sự tiếp xúc đột ngột giữa hai văn hóa Pháp và Việt . Hai văn hóa cổ truyền của Tây phương và Đông phương cách biệt hẳn nhau , và trái ngược hẳn nhau , vẫn không gây ra một cuộc chống chọi nào cả . Xin nhắc rằng đây tôi không nói về phương diện chính trị và tôn giáo , mà nói tổng quát về văn hóa mà thôi . Trái lại , đã có nhiều cuộc phối hợp ngẫu nhiên và thuận lơi. , nếu không thì cũng có sự dung túng và thông cảm với tinh thần hiểu biết rộng rãi , không nề hà câu chấp.
Nhiều biến đổi trái hẳn với nguyên tắc Khổng – giáo , như dân chúng xem thường ông Vua , trai gái học chung một trường , đàn ông đàn bà giao thiệp thân mật , đàn ông hớt tóc v.v…đã được mặc nhiên công nhận , không bị phản ứng nào mãnh liệt .
Hơn nữa , chính các ông Tú , ông Cử Nho học , cũng đã bắt chước cắt bỏ búi tóc tượng trưng cho lòng Hiếu đến với Cha Mẹ , và đã đua nhau “cúp đầu carré" , phong trào đang lan tràn mau chóng nhất lúc bấy giờ .
Dân chúng ở hương thôn , thường là thủ cựu 100 phần 100, cũng đã rủ nhau ra huyện, ra tỉnh , để hớt tóc . Nghề hớt tóc đã thịnh hành , thợ hớt tóc đã mở tiệm khắp cả từ thành thị đến thôn quê .
Một câu ca dao xuất hiện thời bấy giờ , diễn tả rất vui vẻ và hóm hỉnh sự kiện thực tế ấy :
"Văn minh khắp cả hoàn cầu ,
Ông Sư cũng cúp cái đầu 3 xu ! "
Năm 1924, cúp cái đầu đã được coi là "bắt chước theo văn minh". Sự phối hợp giữa
“mới" và " cũ " được biểu hiện rõ rệt ngay trên tấm quảng cáo bằng ba thứ chữ treo trước các tiệm hớt tóc An nam từ năm 1924 như sau đây :
(COIFFEUR -- HỚT TÓC -- TIỂN PHÁT )
Tuy nhiên , đến năm 1921, đại đa số thanh niên An nam vẫn chưa mặc âu phục , và chưa chào nhau bằng cách bắt tay . Ngay ở Hà Nội và Huế ( Saigon có khác hơn vì gần gụi với Tây lâu hơn ) , chỉ có một thiểu số công chức , tư chức , làm việc trực tiếp với người Pháp -- nhưng cũng chỉ mới có một thiểu số thôi – là mặc âu phục gặp nhau bắt tay bonjour" và dở mũ . Sinh viên trường Cao đẳng Đông Dương ở Hà nội cũng đã bắt đầu “mặc đồ Tây" theo các giáo sư Pháp.
Phụ nữ , dĩ nhiên chưa có một người nào uốn tóc , độn ngực , đeo xu-chiêng ( Soutien-gorge ) , -- kể cả các Bà , các Cô “ tân thời " nhất . Hầu hết nữ sinh đều đi chưn không ,các cô Trợ giáo mang guốc , đội nón .
Ở Nam Kỳ , đàn bà thành thị phần đông che dù , ngoài Bắc Kỳ che ô , ở Trung Kỳ đội nón gò găng , hoặc nón lá , thứ đẹp cho các bà các cô nhà giàu , thứ xấu cho phụ nữ bình dân.
Năm 1924, thiếu nữ miền Trung không ăn trầu nữa , nhưng một số đông còn nhuộm răng đen , và chưa dám mặc quần trắng ( thời bấy giờ chỉ có con gái “ nhà thổ , gái điếm , mới mặc quần trắng) . Ở Nam Kỳ thì đã để răng trắng từ lâu , và mặc áo quần “bà ba" bằng hàng lụa ngoại quốc.
Về Thể thao, học trò lớn đã chơi ballon ( Foot-ball, đá bóng ) . Tennis là môn chơi dành riêng cho hạng trí thức sang trọng và quý phái , phần nhiều chỉ chơi với Tây Đầm . Bóng rỗ và bóng bàn chưa được thông dụng trong đám thanh niên và học sinh.
Bọn học trò nhỏ , 15, 16 tuổi như Tuấn-em , chưa ham chuộng các môn Thể thao và cũng rất ít khi đi chơi lang thang ngoài phố . Môn chơi thịnh hành nhất trong đám học trò Tiểu học là “Đá Kiện" . Có nhiều trò đá giỏi , đến 200 cái một lượt . Có khi bốn trò đứng bốn góc sân đá chuyền cho nhau một trái “kiện", hàng nửa tiếng đồng hồ mà trái "kiện" vẫn chưa rơi xuống đất . Tuấn-em môn nào cũng khoái chơi , đá kiện , đánh bi , đánh đáo , xích đu , bắt cóc , bắt thằn lằn , bắt dế.
Mấy thầy Trợ giáo và thầy Thông làm việc các sở , ngoài những buổi sáng xách ô đi tối xách về , thường tiêu khiển bằng âm nhạc An Nam ( các cây đờn cổ điển ) hoặc trồng bông , đánh cờ tướng , đi bẩy chim . Ít có ai đi câu cá hoặc đánh Tennis.
Có những thầy dùng cả những sáng Chủ nhật để lau chùi chiếc xe máy , là món đồ được đa số công chức tâng tiu nhất.
Trừ Hà Nội , Huế , Saigon , còn toàn xứ An nam chưa có tỉnh nào có rạp chiếu bóng . Mỗi tỉnh chỉ có một rạp : ở Nam Kỳ là hát cải lương ( còn sơ khai ) , ở Trung Kỳ hát bội , ở Bắc hát chèo . Tất cả những tuồng hát đều có tính chất Khổng giáo , Phật giáo , nêu gương đạo đức , luân lý , và luôn luôn đến đoạn kết là kẻ hiền tài được thành đạt vẻ vang , được khán giả khâm phục , còn kẻ dữ , kẻ bất lương thì không tránh khỏi bị Trời phạt đích đáng và khán giả phê bình , nguyền rủa.
Nếu thỉnh thoảng một vài cô thiếu nữ đa cảm và nhẹ dạ mê kép hát đến nỗi trốn nhà đi theo chàng , thì toàn là những anh kép đóng vai oai hùng , hiệp sĩ . Những vai độc ác , bất nhân , bọn nịnh thần , quân phản chúa , dù cho hát hay thế mấy , cũng không bao giờ được ai khen ngợi , không đời nào được các cô gái say mê.
Đấy , tình hình tổng quát về tinh thần và vật chất của xã hội An Nam từ năm 1910 đến năm 1924 , dưới cặp mắt quan sát tò mò của Tuấn-em , một thiếu niên nước Việt.

__________________
************************************************** ***********



Chương 26




1924


-Một cuộc viễn hành xe đò từ sáng sớm đến khuya trên đường cái quan dài 150 cây số.
-Ông Tú-tài nhà nho , đầu “ cúp carré “đội mũ trắng làm thơ ca-ngợi chiếc xe hơi .
-Cuộc chiến tranh cân-não giữa chiếc xe đò và con cọp ngồi giữa đèo .
-Cách biệt giữa Tây và Ta trong xã hội .
-Giáo sư Pháp với học trò Việt .
-Hai tờ báo “ Việt-Nam Hồn “ và “ Le Paria “ lén lút đầu tiên đến tay học sinh 14 tuổi .
-Một bài thơ trong “ Việt Nam Hồn “ .
-Ảnh hưởng của tờ báo “ Việt Nam Hồn “ trong đầu óc học sinh .
-Lưu-cầu Huyết-Lệ Thơ, Việt Nam Vong Quốc Sử , Hải Ngoại Huyết-Thư ( từ Nhật Bổn đưa về , tới tay học sinh ).
-Học trò tổ chức đánh phá một tiệm Hoa-kiều bốc lột.
Giấy xe “ cam nhông “ ghi bảy giờ sáng khởi hành đi Qui-nhơn . Thím Ba , mẹ của Tuấn , đã lo dậy từ hồi gà gáy đầu , để làm thịt hai con gà nấu cháo. Tuấn-em cũng giật mình tỉnh dậy , coi lại mấy bộ quần áo , toàn là mới may , và các dụng cụ học sinh , sắp xếp thứ tự trong chiếc “ va-li “ mây . Lần lượt Phán Tuấn và chú Ba cũng thức dậy , thắp đèn trong nhà sáng trưng , và dặn dò Tuấn-em cặn kẽ từng mỗi chi tiết về mọi sự . Tuấn-em chăm chỉ ngồi nghe , ghi nhớ những lời chỉ bảo và hồi hộp lo sợ , vì là lấn đầu tiên Tuấn sẽ lìa cha mẹ , lìa anh , từ biệt quê nhà , để một mình đi học tỉnh xa , bơ vơ còn nhỏ dại .
Thím Ba dọn mâm cháo gà lên cúng Ông Bà . Phán Tuấn thắp đèn , đốt nhang trên bàn thờ . Chú Ba , khăn đen áo dài , khấn vái cho Tuấn-em đi đường bình an vô sự , và được thi đậu vào lớp Ðệ Nhất niên trường Qui-nhơn. Chú cúng xong , Tuấn-em cũng mặc áo dài , cúng kính lạy bốn lạy để xin Ông Bà chứng giám , phù hộ cho đứa cháu út trong gia đình được mạnh khỏe và đi học được đỗ đạt thành tài . Trước khi dọn cháo xuống , chú Ba còn lấy giò gà xem quẻ có tốt không . Chú ngồi ghế tràng kỷ , long trọng đưa hai gìo gà dưới ánh sáng đèn dầu hỏa , xem xét tỷ mỉ mỗi mống chân đã luộc chín quặp lại như thế nào , lớp da teo lại như thế nào , và những đường gân nhỏ trên cẳng , móng cẳng , được sắp xếp như thế nào . Chú Ba trở qua trở lại xem xét hai giò gà , và mỉm cười bảo :
- Quẻ tốt quá ! ông bà phù hộ cho con ra đi được gặp toàn điều đại cát ( rất tốt , rất hay ) . Con thi vào trường thế nào cũng đậu .
Xong ông trao cho Tuấn-em cả hai giò gà để ăn lấy hên . Tuấn-em cười chỉ lấy một cái . Nhưng thím Ba rầy con :
- Con phải ăn hết một cặp giò . Ăn một cái không nên .
- Sao thế , mẹ ?
Chú Ba bảo:
- Ăn một cái , sẽ bị “ quáng gà “ con à .
- Quáng gà là sao , cha ?
Chú Ba tủm tỉm cười , bảo :
- Theo tục lệ của ông bà truyền lại từ xưa , hễ ăn giò gà phải ăn hết đủ cặp , ăn một cái thì buổi chiều tối , sẽ bị lòa mắt , không thấy rõ đường đi , cũng như gà vâỵ .
Tuấn-em sợ hãi , liền gặp hết hai cái giò gà .
Xong bửa cháo tiễn biệt , xem đồng hồ đã 6 giờ hơn , Phán Tuấn giục em ra đi . Nhưng Tuấn-em còn bịn-rịn đứng khóc thút-thít một lúc lâu , tay nắm chặt lấy tà áo của mẹ .
Thím Ba cũng khóc . Thím vừa khóc vừa nói , tiếng nói ấm ức lẫn với tiếng khóc :
- Thôi…con đi mạnh giỏi …Nhờ trời phù hộ cho con…Vô tới trong ấy , con viết thư về , kẻo mẹ trông mong …nghe con ?
Phán Tuấn giục mãi , Tuấn-em mơí chịu đi . Nó chấp hai tay trước ngực , cúi đầu chào mẹ chào cha :
- Thưa cha con đi …, thưa mẹ con đi …, thưa anh Hai em đi…
Nó vẫn còn khóc thút –thít , Phán Tuấn bảo :
- Anh Hai đi với em…Thôi nín đi . Ra đường khóc , người ta cười đấy .
Phán Tuấn xách va li cho em , tiễn em ra đến bến xe .
Chiếc xe “ cam nhông “đi Qui-nhơn lớn bằng chiếc xe thơ “ Staca “ nhưng hành khách đã ngồi chật ních cả .Muốn cho em có chổ ngồi được thong thả một chút , Phán Tuấn đã mua vé hạng nhất là được chỗ ngồi ưu tiên trên ghế trước , cạnh “chauffeur “ ( lúc bấy giờ chưa có danh từ “ tài xế “ , chỉ có tiếng “sốp phơ “ là thông dụng khắp nơi ) . Không dè trên ghế trước trừ anh “ sốp phơ “đã có hai ngươì khhách ngồi đấy rồi , nhét Tuấn-em ngồi kẹt ở giữa . Phán Tuấn than phiền :
- Chà ! Chật qúa , em tôi ngồi ép thế này , làm sao quẩy cựa được ?
Sốp phơ cười đáp :
- Hễ xe chạy , lắc qua lắc lại một lát là rộng chỗ liền , thầy Phán đừng lo .
Trên cửa xe , có ghi mấy giòng chữ trắng 21 places ( 21 chỗ ngồi ) , nhưng Phán Tuấn đếm trong xe đã 27 người , dồn ép vào nhau như trong hộp cá mòi . Trên mui xe cột đồ hành lý cao chất ngất , lại còn có ba ngươì ngồi ngất nghểu , kẻ đội nón , người che dù . 8 giờ rồi , trời đã nắng , mà xe vẫn chưa chạy . Phán Tuấn hỏi :
- Sao trong giấy ghi 7 giờ khởi hành ?
Sốp phơ bảo :
- Thưa thầy , còn chờ hai người khách nữa , rồi chạy liền .
Mãi đến 8 giờ 30 , mới thấy hai người “ các chú “ ( Hoa-kiều , cũng gọi là “ khách trú “ ) đi xe kéo tới , chở hai chiếc va li to tướng và hai giõ hàng hóa . 3 người ngồi trên mui phải leo xuống đất để ngươì ta chất thêm bốn món hành ký kia rồi mới leo trở lên . Nhưng cả ba người đều nói cười vui vẻ . Coi bộ họ thích được ngồi trên mui hơn là ngồi trong xe . Một ông , có lẽ là ông Tú hay ông Cử gì đấy , đầu cúp “ carré “ , đội mũ trắng , tay cầm dù , miệng nhai trầu , đứng trên bàn đạp phía sau , ngâm bốn câu thơ mà ông vừa cao hứng đặt ra , cho tất cả bà con cô bác nghe chơi . Tuấn-em còn nhớ rõ bài thơ như sau đây :
Gặp hội long vân chuyến viễn hành
Ngồi cao ngất ngưởng tận trời xanh
Văn minh rầm rộ thu đường đất
Tiến bộ còi vang khắp thị thành .
Ông cười ha hả , phẹt một bãi nước trầu đỏ ngòm xuống đất , rồi còn giảng cho người ta nghe , sợ người ta không hiểu hết ý nghĩa hay ho của bài thơ tứ-tuyệt mà ông vừa “ xuất khẩu” đã thành :
- Gặp hội Long vân , vì chiếc xe cam nhông này tên là “ Long Vân “ là Rồng Mây , xe hơi của nhà nước Ðại Pháp sáng chế ra có khác nào rồng bay trong mây , cho nên tôi muốn ngồi trên mui xe , cao ngất ngưỏng như ngồi trong mây xanh vậy đó ! Ha ! .Ha! …Câu thứ ba Văn minh rầm rộ là chiếc xe văn minh kêu rầm rầm rộ rộ , thu đường đất xa hóa gần . Tiến bộ còi vang , là xe hơi tiến bộ bóp còi kêu vang khắp cả thành thị thôn quê . Có phải bài thơ này tuyệt không bà con ? Ha ! Ha !
Có mấy người thành thật khen hay , rồi ông Tú mới víu hai tay vào thành xe leo lên mui . Miệng ông vẫn cười đắc chí . Ông nghiêng mình xuống đất nhổ một phẹt nước trầu rồi giương cây dù lên che nắng , cười với tất cả những người đứng dưới ngước lên ngó ông .
9 giờ hơn 10 phút , chiếc “ xe văn minh “ nổ rầm rầm , xịt khói ra đen nghịt phía sau . Giờ phút long trọng . “ Tiếng còi tiến bộ “ reo vang lên “ oa …oa ….oa…” như gào thét cho những kẻ tò mò đứng chật bên đường phải vội vàng chạy tránh ra hai bên lề . Xe chuyển bánh rồi vụt chạy ầm ầm .
Ông Tú “ gặp hội Long vân “ ngồi trên mui cao , bị lắc qua lắc lại , vẫn còn nghiêng mình xuống đường cái , cười nói thật to để từ giã đám đông :
- Bà con ở lại mạnh giỏi nghe !
Xe đã vụt chạy xa , người ta còn trông thấy tay ông ngoắc ngoắc …
Xe đã biến trong một vùng khói bụi mù cuộn lên như một trận cuồng phong .
Vào gần đến Bồng Sơn thì xe hỏng máy . Phải ngưng để xốp phơ sửa chữa ba tiếng đồng hồ mới chạy được . Sông Bồng Sơn rộng lớn , chưa có cầu , phải qua “ phà “ . Tất cả hành khách đều xuống , đi một chuyến phà sang trước chờ đơị bên kia song . Chiếc xe cam nhông được chở trong một chiếc phà riêng , đi sau . Nhưng qua bên kia , xe bò chậm chậm lên bờ , chạy được gần 100 thước rồi lại chết máy .
Sốp phơ chui xuống dưới gầm xe , nằm ngửa mặt lên tay cầm các thứ dụng cụ để sửa máy , trong lúc trên 30 hành khách nhẫn nại ngồi chờ hai bên đường , ÔNG Tú ( hay ông Cử gì đấy ) vừa học lỏm được của sốp phơ vài ba danh từ và vài tiếng Pháp mới lạ , liền cao hứng làm một bài thơ nữa để ngâm lên cho bà con nghe chơi. Tuấn em nhớ hết bài thơ như sau đây :
Máy móc văn minh thật khó bì
Hư đâu sửa đó chẳng hề chi
Tắt bình chứa điện , xe ngưng chạy
Nghẹt ống bơm xăng khói hết xì
Kỹ nghệ khéo bày môn tuyệt xảo
Ô tô nào phải vật vô tri
Ni-hoen( manivelle) quay tính kêu như sấm ,
Bốn bánh bon bon vụt tốc kỳ .
Ông Tú nhà nho hãnh diện vuốt râu , nhai trầu , đội mũ trắng ngồi trên lề đường , ngâm nga và giảng 8 câu thơ tuyệt bút của ông . Hành khách và thiên hạ chung quanh xúm lại nghe , đều gật đầu , tấm tắc khen ngợi … Tuấn-em nghe cũng mê …
Lúc bấy giờ , không biết là mấy giờ , nhưng đã khuya lắm , chiếc xe ì ạch , nặng nề , leo lên một cái đèo cao , quanhco trên một sườn núi . Hai ngọn đèn pha chiếu hai vệt ánh sáng vàng khè trên mặt đường . Bỗng mấy người ngồi băng ghế đầu , trông thấy hai con mắt sáng ngời đăm đăm nhìn chiếc xe . Người sốp phơ run cầm cập , quay laị nói với hành khách :
- Có “ông “ ngồi ở đàng trước kia kìa ! Bà con cô bác coi chừng . Ðừng thò đầu , thò tay , ra ngoài nghe !
Ðồng thời mấy người ngồi trên mui cũng la lên thật to :
- Cọp ! Cọp ! Ê bà con coi chừng ! Có con cọp to lắm đang ngồi nhóc mỏ bên lề đường kìa .
Tất cả đều nhôn nhao , sợ hãi . Tuấn-em nghĩ thầm :” Mình ngồi kẹt ở giữa , không sợ . Nếu cọp có chụp thì chụp cái ông Ba Tàu ngồi ngoài , sát cửa xe .
Chỉ có một con cọp ngồi ngoài đường mà 30 người ngồi trong xe đều hết hồn hết vía .
Tuấn-em tuy ngồi kẹt trong một vị trí tương đối yên ổn hơn , nhưng vẫn hồi hộp run sợ , vì biết đâu ! … Lần này là lần đi xe hơi đầu tiên , lại đi xa , và ban đêm gặp cọp trên đèo , thì làm sao biết trước được sẽ xẩy ra chuyện gì ?
Anh sốp phơ chắc đã chạy quen trên đường quan lộ , sao anh cũng sợ quýnh lên thế ! Xem chừng ảnh mất cả bình tỉnh rồi và hai tay anh run run nắm cái tay lái coi bộ không vững . Anh lâm râm khấn vái :” Lạy ông , ông đi chỗ khác để cho xe tôi chạy , ông ơi “ .
Con cọp cứ ngồi miết một chỗ . Hai con mắt sáng quắc và đỏ lòm , cứ nhìn chòng chọc lên chiếc xe đang rồ máy ầm ầm . Mấy ông ngồi phía sau thúc dục anh sốp phơ :
- Cứ chạy chứ sợ gì , chú ? Bóp kèn cho vang lên , rồi “ phóng nước đại “ , ổng không dám làm gì đâu .
Anh sốp phơ nói :
- Bữa trước , đã có một chuyến xe lên đèo ban đêm cũng gặp ổng rồi , ổng rượt theo xe, vồ một thằng “ét” ngôì phía sau .
Mấy ngươì ngồi sau , nghe nói hoảng hốt , ngồi ép dồn vào trong hết . Moị người la lên :
- Sao xe không có cửa sau đóng lại vậy nè ?
- Có cửa , mà bị cọp vồ chuyến trước , thành nó sút ra đành phải bỏ laị Qui-nhơn để sửa , chuyến naỳ vô mới lắp lại được .
Trong xe bàn tán xôn xao , nhưng không ai dám lớn tiếng , vì ai nấy đều lo sợ cọp nhảy tới . Chiếc xe vẫn cứ rồ máy và rung động , hình như chính nó cũng sợ run lên . Có người bảo sốp phơ :
- Chú cứ đạp mạnh ga cho xe vọt mau lên , không được sao ?
- Ðược làm sao được ? Ðèo thì cao , xe vừa sửa máy phải chạy chậm , chứ chạy mau lở hư máy nữa thì chết . Nếu xuống dốc thì còn nói gì .
- Thế thì làm thế nào ? Không lẽ đứng mãi đây à ?
Sau cùng sốp phơ bảo :
- Tôi cho xe chạy nghe ! Bà con la hét rùm lên thật to nghe ! Lạy trời , ổng sợ không dám rượt theo thì mình thoát nạn .
- Ừ , cứ chạy đi . Tuị tui la làng xóm lên , không sao đâu .
Anh sốp phơ sang số xe , cho xe từ từ tiến tơí , rối cố vọt lên đèo . Toàn thể hành khách la hét um sùm , lẫn lộn đủ các tiếng :” Ối làng xóm ơi ! Hù , hù , hù , hù , hù . Cọp , cọp , cọp . Ối làng xóm ơi , Cọp ! Cọp ! “
Xe gần đến cọp , cọp cứ ngồi yên không nhúc nhích , nhưng cặp mắt cọp sáng ngời cứ đăm đăm nhìn theo xe …Xe càng đến gần cọp , tiếng kêu la hò hét càng to lên , càng ồn ào náo nhiệt . Bổng cọp “ gầm “ lên một tiếng vang dậy cả núi rừng khiến cho tất cả mọi người đều khiếp đảm , im lặng hết . Chỉ còn tiếng xe kêu rầm rầm , khói xịt ra mù mịt đen ngòm và tiếng còi xe kêu điếc óc điếc tai .
Xe chạy ngay đến chỗ cọp , cọp nhổm dậy toan vồ xe , bổng từ trên mui xe hai cái thùng rớt mạnh xuống kêu “ Phèng ! phèng ! choảng choảng “ ngay trước mũi cọp rồi lăn ra đường cái . Cọp hiảng hốt chạy vọt vào rừng , hành khách chưa kịp hiểu tiếng gì cũng hoảng hốt ôm chầm lấy nhau , dồn ép nhau thành một đống . Xe cứ bò từ từ lên đèo , rầm rầm rộ rộ , còi xe cứ bóp oa , oa , oa ! Vài ba bà hành khách chưa hoàn hồn còn há to mồm la hét :
- Ối làng xóm ơi . Ối làng xóm ơi !
- Cọp , Cọp , cọp !
Lên đèo khoảng 100 thước , xe bắt đầu xuống dốc , chạy êm ru không còn tiếng ồn ào xáo động nữa .
Chạy một khoảng xa , đến đồng bằng , vừa thấy vài chục nóc nhà và các lều tranh ở hai bên lề đường , đèn đuốc , sáng trưng , người ta đông đúc , vui vẻ . Một trại của “ cu-li lục-lộ “ở chung vơí xóm làng dân địa phương . Xe ngừng lại , để nghỉ . Ðến đây , toàn thể hành khách xuống xe , mơí bu lại ba ông trên mui cũng vừa leo xuống , kể lại câu chuyện thùng thiết . Ðấy là hai thùng thiết đựng đường cát của ông Tú đem vào Qui-nhơn để bán . Trong lúc xe ngừng trên đèo và hành khách bàn tán những biện pháp lo đối phó với cọp , ộng Tú lặng lẽ cùng hai bạn đồng hành đổ hết đường ra một tấm vải bố lớn của chủ xe ddùng để che đậy hang hóa . Ông nhất định hy sinh hai thùng htiếc ấy để đánh một đòn “ chiến tranh cân não “ lên đầu cổ “ông cọp “ và ông tin chắc chắn sẽ thắng lợi .
Ông Tú nghĩ đúng . Cọp sợ hoảng vụt chạy vào rừng , chính vì bị cái vố hai thùng thiếc bất ngờ ấy rơi ngay trước mũi ông với một tiếng phèng la kinh khủng , chứ đâu phải vì những tiếng kêu :” ối làng xóm ơi ! Hù . Hù ! “ “Cọp ! Cọp “ , và tiếng còi oa , oa … của chiếc xe ho lao không đủ sức bò lênm đèo !
Câu chuyện gặp cọp trên đèo thành ra một đề tài vô cùng hào hứng cho các anh “ cu li lục lộ “ và đàn ông đàn bà trong xóm hai bên đường cùng xúm lại bàn tán , vui cười rất là náo nhiêt .
Tuấn chen vào các đám đông góp câu chuyện bi-hài kích thích thú vị ấy .
Nhưng một lúc , Tuấn không thấy ông Tú đâu . Ði ngang qua các căn nhà mở cửa , Tuấn muốn tìm ông Tú . Ông đang ngồi trong một căn nhà chong đèn dầu hỏa . Chung quanh ông có sáu , bẩy người , nét mặt vui cười nghe ông ngâm thơ . Tuấn bước vào . Ông Tú vẫn đội mãi chiếc mũ trắng trên đầu ( tóc cúp carré ) , tay vẫn cầm cây dù đen , miệng vẫn nhai trầu mỏm-mẻm, nói rất có duyên . Ông đang ngâm và giảng bài thơ ông vừa làm ra như sau đây , cho bà con cô bác nghe chơi :
ÐI XE GẶP CỌP
Một chiếc xe xanh , một cọp vàng
Nhìn nhau bốn mắt sáng choang choang
Cọp gầm vang động , ôi hồn vía !
Xe hoảng kêu lên , ối xóm làng !
Máy bết , người run , vô diệu kế
Ðèo cao , đêm vắng , thậm nguy-nan !
Kìa đôi thùng thiếc ai quăng đấy !
Cọp nhảy co giò , tưởng sét vang .
Tuấn ngồi nghe , và thuộc lòng mấy bài thơ của ông Tú làm dọc đường , để kỷ niệm cuộc viễn hành đầu tiên của Tuấn giữa buổi giao thơì của Lịch sử , nửa tân nửa cựu .
Ðường cái quan người Pháp goị là “đường thuộc địa số một “ ( Route Coloniale N. 1 ) qua các vùng hiểm trở của miền Trung , nhất là từ Bình Ðịnh vào Bình Thuận , đã có tiếng rất là nhiều cọp . Xe hơi đi ban đêm thường gặp cọp luôn , và bởi cọp thời bấy giờ chưa từng thấy xe hơi nên ưa ra ngồi bên lề đường để rình chụp , và hăm he khiêu khích . Cọp ngày nay đã văn minh rồi , nên trông thấy xe hơi thì mau mau lẫn tránh vô rừng .
Dọc đường , thỉnh thoảng có một vài cái “ Miểu cô hồn “ hoặc “ Am bà Thánh Mẫu – không ai biết bà Thánh Mẫu nào ? -- Ở các khúc đường quẹo nguy hiểm.
Nhiều khi ở dưới chân đèo , giữa rừng núi âm u . Ðến gần đấy , xe hơi nào cũng đậu lại . Sốp phơ đốt giấy vàng bạc và đèn hương cúng lại vị Thần linh . Các anh sốp phơ đã truyền miệng cho nhau rằng phai cúng lạy nơi các am ấy để các “ ngài “ phù hộ cho xe tránh khỏi tai nạn dọc đường , như xe rớt xuống hố , xe hư giữa đèo , hành khách bị cọp chụp v.v…
Hình như ( theo lời họ nói ) đã có những chiếc xe hơi qua đấy không chịu cúng kiến à dâng hoa quả , lên đèo bị tai nạn luôn .
Văn minh khoa học và mê tín dị đoan vẫn dung hòa với nhau trong các chuyến xe vận tải và xe đò dọc theo quan lộ …
Trước cặp mắt tò mò và ngơ ngác của Tuấn , thiếu niên 14 tuổi của nước Việt năm 1924, thành phố mà cậu đến lần đầu tiên để tiếp tục việc học , cách xa tỉnh nhà trên 150 cây số , thật là hoàn toàn mới lạ .
Mới lạ, vì đây là một thành phố rộng lớn , ở ngay trên bãi biển . Mới lạ , vì ở đây nhà cửa cao đẹp , đường phố rộng rãi , người qua lại đông đúc , xe hơi chạy rần rần “ văn minh tiến bộ “ hơn ở tỉnh cũa cậu nhiều . Mới lạ , vì ở đây cậu thấy đủ các hạng Tây Ðầm : Tây quan , Tây nhà buôn , Tây “ cò “ , Tây “ cố đạo “ , Tây “ giáo sư “ , có đến ba bốn chục ông , chớ không như ở tỉnh nhỏ của cậu chỉ có bốn năm ông quan Tây và vài ba bà Ðầm mà thôi .
Dĩ nhiên , Tuấn còn là cậu học trò con nít , vẫn còn “ sợ “ các ông Tây , cũng như hầu hết học trò lúc bấy giờ . Cho đến đỗi , trong năm đầu , học Ðệ-Nhất niên , thường gặp các ông Tây”cố đạo “ ( danh từ thông dụng thời bấy giờ , để gọi các vị linh mục Gia Tô Giáo ) , Tuấn cũng không dám đến gần .
Có thể nói rằng hầu hết thiếu niên Việt-Nam thế hệ 1924-25 , cùng lứa với Tuấn đều có mặc cảm rằng người “ Tây “ khác hẳn người “ Ta “ về mọi phương diện . Tuy đang học chữ Tây , nói tiếng tây đã khá thạo , viết chữ tây đã hơi thông , các cậu học trò thời buổi ấy vẫn coi Tây là một giống người xa lạ , mà các cậu còn e ngại , ngờ vực , chưa khứng làm quen.
Tuấn lại nhận thấy rằng người Tây ở một khu riêng biệt , nhà cửa cao ráo , sang trọng , có vườn hoa đẹp , có xe hơi , có xẩm giữ con , có bồi , có bếp , có chó “ berger” . Ði ngoài đường ngó vào thấy có vẻ oai nghiêm lạ . Cả thành phố lớn như thế , Tuấn không thấy được một nhà An-nam nào sang trọng như nhà Tây .
Kể ra người Pháp sang xâm chiếm và cai trị xứ ta đã gần 40 năm rồi mà sự cách biệt giữa Tây và Ta vẫn còn xa lắc xa lơ : cách biệt trong đơì sống hang ngày , cách biệt trong các công cuộc hoạt động hành chánh , xã hội , kinh tế , thương mãi . Cách biệt cả trong phạm vi giáo dục nữa .
Tuấn để ý thấy rằng trường Tây để cho con Tây học riêng , và xây cất đẹp hơn , một tòa nhà đồ sộ , kiến trúc nguy nga , giữa một khu vườn rộng , có bồn cỏ , khóm hoa , ngay trên bãi biển . Trường An-Nam thì sơ sài , thấp lè tè , xây trên một động cát khô khan gần chưn núi . Không những thế , ở trường An-nam -- một truờng duy nhất học đến cấp bậc Cao Ðẳng Tiểu Học ( Enseignement Primaire Supérieur ) – có 5 giáo sư An-nam tốt nghiệp trường Cao đẳng Hà Nội và 5 giáo sư Pháp tốt nghiệp tương đương , bằng Brevet Supérieur ở Pháp , mà sự giao thiệp Pháp-Việt hang ngày vẫn lơ là gượng gạo . Giáo sư Pháp ít nói chuyện và ít giao du thân mật với giáo sư Nam , trừ một đôi trường hợp hiếm hoi . Quen tính tò mò , Tuấn hay để ý thấy trong các giờ chơi , thỉnh thoảng hai ba giáo sư Pháp đứng nói chuyện vơí một vài giáo sư Nam độ 5, 10 phút , rồi Pháp lại cặp kè với Pháp , An-nam bị bỏ rơi đi thơ thẩn trên hành lang , mỗi người một ngã không ai để ý đến .
Tuy nhiên , nói như thế không phải là qủa quyết rằng giáo sư Pháp kiêu căng , phách lối . Trái lại hầu hết giáo sư Pháp đều rất thương mến học trò , và rất vui vẻ với học trò hơn các giáo sư An-nam nữa !
Trừ một giáo sư Toán đáng ghét , còn bốn ông khác đều gây được lòng cảm mến của toàn thể học sinh , Nhất là giáo sư Sử-Ký , mỗi khi ông giảng sử Pháp là học trò nghe mê . Ông là người có chân trong hội Nhân quyền và Dân quyền ở Paris , cho nên trong lúc giảng bài ông luôn luôn công kích kịch liệt chế độ quân chủ thời Louis XVIvà không ngần ngại tuyên truyền cho đám thiếu niên học sinh An Nam những tư tưởng của Cách mạng Pháp 1789 Tự Do , Bình Ðẳng , Bác Ái .
Ông đả kích bọn cầm quyền độc tài , áp chế , ông hô hào tự do, dân chủ , đề cao các nhà Cách mạng Pháp như Jean Jaurès, ông đề cao cả cụ Phan Chu Trinh , mà học trò ngơ ngác chưa biết là ai . Cứ đến giờ Sử ký Pháp , ông giáo Mariani vào lớp là y như thể sắm có cuộc diễn thuyết cổ động chống “ chính sách thuộc địa “ . Ông lật sách ra , giảng sơ sơ năm mười giòng rồi bỏ sách xuống , nói huyên thuyên , la ầm ĩ , hét thật to , đập bàn , đập ghế, đứng dậy , xăn tay áo , phùng mang , trợn mắt , mặt đỏ như quả gấc , ông nói , ông nói…” Dân là Vua ! Dân là Chúa Trời ! Vâng , đúng thế ! Dân là tất cả ! Dân là Chúa Tể trong nước ! Kẻ nào đè nén Dân , bóc lột Dân , hãy coi chừng ! …v.v…
Tuấn ngồi há miệng nghe ,như uống ngon lành , say sưa những lời nói aò-ạt , ngào-ngạt , của vị giáo sư Sử ký Pháp . Ðến khi hết giờ giáo sư còn nói …nói “ cách mạng là cuộc vùng dậy , cuộc quật khởi của những kẻ yếu , chống lại kẻ bạo tàn . Và luôn luôn kẻ yếu sẽ thắng ! Công lý sẽ thắng ! Tự Do sẽ thắng ! Cường quyền và áp chế sẽ sụp đổ như những tượng ác thần luôn luôn bị ngã gục , đổ nát tan tành dưới lưỡi búa tầm sét của Liịch sử ! …” Xong ông đứng dậy ôm cặp đi ra …Tuấn muốn chạy theo ôm lấy chân ông , muốn hôn bàn tay ông , muốn níu ông trở lại , thì vừa ông Gabriel giáo sư Toán bước vào .
Ông này có nụ cười láu cá , đôi mắt ranh mãnh , nét mặt độc ác , trái hẳn với ông Mariani . Ông giảng toán một lúc rồi gọi Tuấn lên bảng :
- Mầy hãy vẽ một hình tam giác hai cạnh đều nhau .
Tuấn cầm phấn vẽ hình tam giác hai cạnh đều nhau .
Ông Gabriel mặt đỏ bừng hỏi Tuấn :
- Xong chưa ?
- Thưa ông , xong rồi .
- Ði xuống , zéro !
Ông cho Tuấn trong sổ điểm một con số không tròn vo thật đậm . Tuấn không hiểu sao cả . Ông goị người học trò khác lên bảng . Anh này giỏi toán nhất lớp , và được ông Gabriel cưng nhất . Ông hỏi :
- Thằng Tuấn nó vẻ hình tam giác đấy có đúng không ?
- Dạ, thưa không .
- Thiếu cái gì ?
Trò kia cầm phấn đề 3 chữ A, B, C nơi ba góc . Ông Gabriel gật đầu :
- Giỏi ! Ði xuống .
Ông cho trò ấy 19 điểm . Tuấn ngồi làm thinh . Ông Gabriel nhìn nó và mắng nó :
- Mầy là thằng ngốc ! Thằng ngu ! Crétin, va !
Tuấn đứng dậy :
- Thưa ông gíáo sư …
- Im cái mồm và ngồi xuống ! Ðồ mọi rợ ! Cả giòng giống An-nam của mầy là đồ mọi rợ . Giòng giống An-nam bẩn thỉu ( sale race annamite ) .
Cả lớp ngồi gục đầu , cắn răng , làm thinh , Tuấn cũng làm thinh . Bốn chục chàng thiếu niên âm thầm nuốt hận .
Lớp học lại tiếp tục trong bầu không khí nặng nề . Có lần cũng trong lớp học , ông Gabriel chửi Ðề Thám là” tướng cướp “ , chửi vua Duy Tân là “ thằng nhải con “ và có lần ông lấy một bài của Phạm Quỳnh đăng trong baó France Indochine ở Hà nội , đọc cho học trò nghe , và khen tặng Phạm Quỳnh một câu :” Ðấy là một người An nam thông minh “ ( voilà un Annamite intelligent ) .
Các ông giáo sư “An Nam “ có lẽ không thông minh chăng , vì học trò mét lại cho các ông nghe những lời của giáo sư Pháp kia chửi rủa giòng giống An Nam như thế , mà các ông Giáo Sư An Nam vẫn điềm nhiên . Có ông lại còn cười , cho là những lời nói đùa . Một ông giáo sư Luân Lý lại còn điểm một câu phê bình :” Người mạnh bạo bao giờ cũng có lý . Các cậu không nên phàn nàn “.
Tuấn chia giáo sư Pháp ra làm ba hạng :
giáo sư Toán Gabriel, đáng ghét ,
giáo sư Sử Ký Pháp : Mariani, đáng kính phục .
Hai giáo sư Pháp văn và giáo sư Ðịa dư : đáng mến .
Tuấn cũng chia giáo sư An nam làm 4 hạng :
Ông Tr. Giáo sư Lý-Hóa : đáng sợ (ông này nghiêm quá)
Ông Th. Giáo sư Luân-Lý : đáng ghét ( vừa làm phách , vừa dạy dở, lại hay gắt gỏng và ưa nịnh Tây )
Ông V. Giáo sư Quốc-Văn : đáng ghét ( vừa làm tàng , vừa kém Việt văn , cũng nịnh Tây đôi chút )
Ông B. Giáo sư Sử-Ký An-nam : đáng mến , dạy giỏi .
Ông D. giáo sư vẽ và viết tập : đáng mến và hiền lành .
Dần dần , quen với giáo sư Pháp , Tuấn thích lân la nói chuyện với họ và bắt đầu có những ngạc nhiên mới lạ . Như thấy có 3 ông trong số 5 ông , sáng chủ nhật không đi nhà thờ , đêm Noel không đi lễ , Tuấn đánh bạo hỏi . Ông Mariani cũng như hai ông giáo sư Pháp văn bảo :” Tôi không tin có Chúa “ . Trái lại ông Gabriel là một tín đồ nồng nhiệt , ông giáo sư địa dư cũng là một con chiên trung thành , sáng chủ nhật nào cũng gặo ông đi nhà thờ rất sớm , Tuấn liền có ý nghĩ :
“À , thế ra không phải tất cả người Pháp đều theo đạo Gia-tô ".
Sau này có ông Martin và cô vợ trẻ đẹp của ông là con gái ông Ðốc học , cả hai đều là giáo sư Pháp văn và Văn phạm , cũng không khi nào đi nhà thờ . Hơn nữa , ông M. thường công kích đạo Gia-tô kịch liệt , Ông công kích cả đạo Phật cho là tất cả các tôn giáo đều là mê tín . Còn giáo sư An Nam thì không ai theo đạo Gia-tô cũng không ai theo đạo Phật : các ông theo đạo …cờ bạc . Ðêm nào các ông cũng đánh tứ-sắc , hoặc xổ tam-hường . Tuấn biết hết các nơi hội họp đổ bác của các ông , chỉ trừ ông giáo sư Sử ký An – nam , người Bắc , góa vợ , ông này có một đời sống thanh bần giản dị , có hơi “ phi-lô-dốp “ một chút .
Tuấn ở trọ một thầy Thông Kho Bạc , người Hoàng phái , họ Bửu . Một đêm thứ bảy , có bốn thầy tụ họp trên gác nhà thầy Bửu Vinh để đánh tổ tôm . Tuấn ngồi ngoài hè , chăm chú ngó con thằn-lằn bò trên mặt kiến đèn “carbure” dựng bên lề đường . Bóng nó nằm dài thườn thượt xuốnf đường cái như bóng ma , lúc biến lúc hiện , lẫn với bóng lá bóng cây run run trong gío lạnh .
Bổng có một thầy cùng sở với thầy Bưủ Vinh tên là H. đi xe máy đến . Thầy xuống xe , móc trong túi lấy ra một tờ giấy in gấp lại dầy mo , nhét vào tay Tuấn và khẻ bảo :
- Ði vào nhà , đọc đi , đừng cho ai thấy . Ðọc lẹ , rồi 10 giờ tôi lấy lại .
Nói xong , thầy dắt xe máy vào nhà thầy Bửu Vinh , d0óng cửa lại , rồi trèo thang lên gác , nhập vào sòng bài tổ tôm . Còn một mình Tuấn ở nhà dưới . Tuấn hết sức ngạc nhiên , mở xấp giấy in ra thấy ba chữ to tướng in màu đỏ : “ Việt Nam Hồn “ .
Lần đầu tiên , cậu thiếu niên Trần Tuấn , cầm trong tay một tờ báo . Cậu ngó kỹ thấy trên đầu trang dưới giòng chữ :” Việt Nam Hồn “ , một câu cũng in màu đỏ đại khái như sau đây :” Cơ quan tranh đấu cho nền Ðộc Lập của nước Việt Nam “ , dưới có giòng in đen :” Trụ sở Trung Ương ở Marseille, Pháp quốc “ .
Tuấn vừa sợ vừa mừng run lên , Cậu lên giường nằm trùm chiếc chiếu , để ló đầu ra và đặt cái đèn dầu lửa gần đầu giường . Cậu xem tờ báo , say mê , như muốn nuốt vào bụng những cột báo đầy rẫy những chữ hô hào Ái quốc , cổ động cách mạng chống Pháp , tranh đấu giành Ðộc Lập , Tự Do .
Những bài thơ in trong báo”Việt Nam Hồn “ mà Tuấn còn nhớ sau đây :
Hăm lăm triệu đồng bào nổi dậy
Ðuổi quân thù ra khỏi giang sơn
Chớ sao ngậm oán nuốt hờn
Ðể mang tủi nhục cho Hồn Việt Nam
Bẻ xiềng xích , phá vòng nô lệ
Ðem máu đào rửa hận Non Sông
Hỡi đàn con cháu Lạc Hồng
Chớ mê giấc ngủ còn hòng việc chi !
Bài thơ còn dài lắm …Tuấn nhắm mắt đọc ôn lại hai ba lần cho nhớ từng chữ , từng câu , chớ không dám chép ra giấy , để còn những bài khác , những trang khác , tất cả bốn trang giấy lớn in đầy những lời xúi dục khởi nghĩa , thức tỉnh đồng bào .
“ Việt Nam Hồn “ là tờ báo bí mật đầu tiên lọt vào tay chàng thiếu niên nước An Nam năm 1924, tuy lúc bấy giờ Tuấn mới 14 tuổi . Tuấn hết sức ngạc nhiên , sau khi đọc hết tờ báo , coi lại thật kỷ nơi trang đầu , thấy có chua một giòng chữ đen mà Tuấn không hiểu :” Chủ nhiệm : Nguyễn thế Truyền “ .
Tuấn cứ thắc mắc :” Chủ nhiệm là gì ? Một danh từ mơí lạ mà Tuấn không biết rõ nghĩa , và sau đó hỏi một ông giáo sư Quốc-văn , ông giảng giải :” Chủ nhiệm là một ông chịu trách nhiệm “ Còn Nguyễn thế Truyền là ai ? Cậu học sinh 14 tuổi tưởng tượng ông là nhân vật ghê gớm lắm. 10 giờ 30 , thầy H. , từ trên lầu xuống , đến gầnm Tuấn . Tuấn để ý thấy thái độ thầy H. cũng bí mật lạ lùng . Thầy hỏi rất khẻ :” cậu đọc rồi chưa ? “ Tuấn cũng trả lời rất khẻ :
- Dạ rồi … Thầy ơi , tờ báo này ở đâu vậy , thầy ?
- Có ngươì ở bên Tây đem về . Bí mật đấy nhé .Tôi thấy cậu Tuấn có “đầu óc “ , tôi mới cho mượn xem . Xem xong , đừng nói cho ai biết . Nói tùm lum sẽ bị bắt bỏ tù , hay là bị chết chém đấy.
- Dạ , tôi không nói gì đâu .
- Giữ bí mật , rồi tôi sẽ cho mượn tờ khác để coi .
- Dạ …nhưng thầy à , ai gởi Báo cho thầy vậy ? Sao họ đem lén đem về được , thầy ?
- Có anh bồi tầu , cứ mỗi chuyến tâù ở bên Tây về thì ảnh đem báo này về cho tụi mình . Cậu Tuấn nhớ là đừng để lộ bí mật , nghe ? Người nào đáng tin cậy , cậu hãy nói chuyện m và đọc vài câu thơ trong này cho họ nghe . Cậu chỉ nói là cậu nghe lỏm đâu đó , chứ đừng nói là câụ có thấy tờ báo : "Việt Nam Hồn “ . Nghe không ?
- Dạ .
- Cậu có thích đọc tờ này không ?
- Dạ, thích lắm . Tôi đọc say mê , thầy ơi ! Hay qúa thầy ơi ! Ồ , nếu Tây họ biết được , chắc họ bỏ tù tuị mình
- Ừ , vì thế nên tôi dặn cậu là phải kín mồm kín miệng.
- Thầy có đưa cho thầy Vinh đọc không ?
- Có , thầy Vinh cũng thích lắm . Chính thầy hiểu cậu , biết cậu là học trò có “đầu óc “ , nên thầy dặn tôi đưa cho cậu xem .
- Cảm ơn thầy lắm . Hễ chừng nào có “ Việt Nam Hồn “ thì thầy nhớ cho tôi mượn coi với nhé . Chu cha ! coi sướng quá thầy ơi ! Thơ hay qúa thầy ơi ! Họ chửi Tây , mình đọc thấy lạnh xương sống . Sướng mê !
Thầy Hồ tủm tỉm cười , gấp tờ báo “ Việt Nam Hồn “ làm bốn , rôì đút trong lưng quần , giấu kín sát bụng , dưới hai lớp áo cụt và áo đen . Thầy ra về .
Tuấn tắt đèn , nằm đọc thầm lại bài thơ lúc nãy :
Hăm lăm triệu đồng bào ! Nổi dậy !
Ðuổi quân thù a khỏi giang sơn
Chớ sao ngậm oán nuốt hờn
Ðể mang tủi nhục cho hồn Việt Nam ?
Ðây là đêm thứ Bảy . Cả ngày Chủ nhật Tuấn cứ đọc thầm bài thơ trên 70 câu . Tội nghiệp Tuấn-em ! Mới 14 tuổi , chưa hiểu quốc sự là gì cả , lần đầu tiên được xem lén một tờ báo “ ghê gớm “ in từ bên Tây , gởi lén về An Nam , làm xáo trộn cả tâm hồn còn ngây thơ của cậu . Cậu bổng nhớ lại nét mặt nhăn nhó và những lời quyền rủa của ông giáo sư Toán , Gabriel , mà Tuấn thường gọi với các bạn là “ Người Mặt Khỉ “
Tại sao ổng dám chửi mình là “ nòi giống dã man “ “ Sale race Annmite “ ?
Trong đêm tối , nằm đắp chiếc chiếu ( vì không có tiền mua mùng và mền ) , Tuấn âm thầm tức giận ông Tây Gabriel , rồi cảm xúc vì bài thơ trong “ Việt Nam Hồn “ , bổng dưng Tuấn khóc …Nhưng Tuấn khóc thút thít , không dám khóc to …
Cô Vinh , vợ thầy Bửu Vinh , từ nhà trên cầm cây đèn đi ra sau bếp , chợt đi ngang qua chỗ Tuấn nằm , nghe Tuấn khóc . Cô cười , hỏi với giọng Huế :
- Cậu Tuấn dợ dà hỉ ( nhớ nhà , nói theo giọng Huế ) ?
Tuấn nằm im thin thít giả vờ ngủ , không dám lên tiếng .
Sáng thứ Hai , Tuấn đi học , tìm ngay một ngươì bạn cùng tỉnh mà cậu thân nhất , kéo ra phía sau trường nói thầm :
-Quỳnh ơi , mầy có thấy tờ báo “ Việt Nam Hồn “ không ?
-Tờ gì ?
- Việt Nam Hồn .
- Ở đâu ?
- Tao có đọc lén được một tờ , mầy ơi . Có bài thơ hay lắm , tao đọc cho nghe …
Thế là Tuấn đọc hết cả bài thơ “ Hăm lăm triệu đồng bào , nổi dậy “…
Trò Quỳnh kéo trò Tuấn ngôì xuống cát , dựa lưng vào vách tường , bảo Tuấn đọc lại một lần nữa . Rồi Quỳnh căn dặn Tuấn làm sao hỏi mượn tờ “ Việt Nam Hồn “ cho Quỳnh xem .
Từ hôm ấy , trong trưòng Cao đẳng Tiểu Học Qui-nhơn lớp Ðệ Nhất Niên ( 1ère Année ) tương đương với lớp Ðệ Thất bây giờ , có một nhóm học sinh năm đứa , cứ trao lén cho nhau xem tờ Việt Nam Hồn đã rách nhèo nát hết và dán lại từng mảnh .
Mỗi khi cho mượn , hoặc trao trả lại , các trò gấp làm tư , dúi trong lưng quần , giấu sát bụng , dưới hai lớp áo cụt và áo dài đen . Lúc bấy giờ học trò chưa dám mặc “đồ Tây “ , tất cả đều mặc aó dài ta , đội mũ , mang quốc .
Phải nói rõ rằng , nhóm học sinh âý chưa bao giờ dám nghĩ đến chuyện “ cách mạng “ hay là “ làm hội kín đánh Tây “ . Nhưng cái mầm ái quốc đã bắt đầu nẩy nở dụt dè và kín đáo trong tâm hồn ngây thơ của tuổi trẻ . Và không riên gì ở trường Qui-nhơn , mà khắp các trường Cao đẳng Tiểu học trong nước như trường Quốc học và Ðồng Khánh ở Huế , trường Trung học Bưỏi , và Cao đẳng Ðại học ở Hà Nội , các trường “ college “ khác ở Hải Phòng , Nam Ðịnh , Vinh, Saigon, Mỹ Tho , CầnThơ , v.v…Ấy là do ảnh hưởng đầu tiên của những tờ báo bí mật từ bên Tây gởi lén về do đường tàu thủy trong đó có hai tờ được phổ biến lén lút sâu rộng hơn cả là Việt Nam Hồn bằng Việt ngữ xuất bản ở Marseille , và tờ Le Paria bằng Pháp ngữ xuất bản ở Paris .
( Le Paria , tiếng Pháp gốc tiếng Ấn Ðộ , là kẻ thuộc về giai cấp bần cùng , không có quyền gì cả , bị coi như là lớp người ti tiện , và bị kẻ giàu mạnh chà đạp , khinh khi , hất hủi )
Ðó là tờ báo cách mạng đầu tiên mà Tuấn và nhiều thiếu niên khác cùng thế hệ đã được đọc lén lút từ năm 1924.
Cùng một lúc , một số sách báo , cũng bí mật từ bên Tây và bên Nhật được gởi lén về Việt-Nam , do tầu thủy , nhất là do chiếc tàu S/S Canton , chạy đường Saigon – Tourane (Ðà Nẳng ) -- Hải Phòng -- Hồng Kông . Trong số các sách báo ấy rất tiếc là chỉ một số rất ít viết bằng Việt-ngữ , còn đa số là bằng chữ Nho . Tuấn được thất bổn “ Việt Nam vong quốc sử , Lưu cầu huyết lệ thư , Hải ngoại huyết thư “ . Nhưng lúc bấy giờ Tuấn chỉ được đọc các bản chép lại bằng tay , không có tên tác giả . Mãi bốn năm năm sau , Tuấn đã ra Hà Nội tìm tòi học hỏi , mơí biết là những sách ấy của cụ Phan Bội Châu . Tuấn trao các sách1 “ cấm “ấy cho Quỳnh và các trò khác cùng một chí hướng , nhưng ai cũng phải tự tay mình chép lại , để xem lén , rồi giấu kín dưới va li quần áo .
Một hôm , lần đầu tiên Tuấn đưa một bài thơ chép trong “ Viêt Nam Hồn “ trên một mảnh giấy , trao cho H.X.T., con một quan Tri phủ đang nhậm chức ở Bình Ðịnh , học cùng lớp vơí Tuấn . Trò T. , ngươì Huế , xem xong hoảng hốt xé phăng ngay mảnh giấy . Hắn hỏi Tuấn :
- Mi lấy cái đồ bậy bạ ni ở mô rứa ?
Tuấn cười đáp :
- Tối hôm qua , tao đi bắt còng ( con còng giống như con cua , nhưng nhỏ hơn và chạy rất nhanh , có trên nhiều trên bờ biển , trốn giỏi lắm , nhất là ban đêm ) ngoài bờ biển , lượm được bài thơ đó trong môt cái hang còng , mầy ơi !
T. làm thầy khôn , dặn Tuấn :
- Sau , mầy đừng có lượm những cái giấy như ri , lỡ mà ông Directeur thấy được thì ông đánh mi chết .
- Tao đưa cho mầy coi chơi , chớ tao đâu dám coi .
Trò T. sợ quá , còn lấy tay moi một lỗ khá sâu trên bãi cát sau sân trường , để chon dấu bài thơ ghê gớm mà hắn đã xé vụn ra từng mảnh nhỏ .
Tuấn cười bảo :
- Mi dấu bài thơ nớ còn hơn con còng dấu trứng nó trong hang ! Mi coi chừng chớ tao sợ bài thơ nó sẽ nở ra thành một bầy còng chạy lung tung trong trường mình , thời mặc sức ông Ðìa-réc-tưa chạy theo bắt . Ha ! Ha!
Trò T. con trai cưng của quan Phủ Bồng Sơn không hiểu ý Tuấn , nhưng cũng cười hì hì .
Tưởng cần nhắc lại rằng , trong lúc nhiều phần tử trí thức Nho học , lẫn Tây học , ở Bắc , Trung , Nam vẫn tiếp tục hoạt đông bí mật , hô hào Nhân quyền , Dân quyền, cổ xuý Tự Do , Ðộc Lập , thì trái lại , một số thanh niên hầu như hoàn toàn lãnh đạm , chỉ ham mê học hành tranh đua trên con đường công danh sự nghiệp mà thôi . Tâm trạng ấy không phải là không có nguyên nhân . Một là vì chưa có điều kiện tổng quát để kích thích sự phát huy tư tưởng ái quốc , hai là chưa có một mãnh lực đủ uy tín để giác ngộ tinh thần quốc gia chủng tộc của lớp trẻ ấy . Vả lại phải nhìn nhận rằng thời bấy giờ người ta chưa chú trọng đến thanh thiếu niên cho lắm.
Các sách báo cách mạng từ Hải ngoại gởi về lén lút do các đường tầu thủy , chỉ được lưu hành trong các tầng lớp trung lưu trí thức , nhất là trong giáo giới và một số ít công tư chức có tư tưởng độc lập .
Một vài tờ báo lọt đến tay các bạn thanh niên , là một việc hi hữu và trong những trường hợp vô cùng dè dặt và thận trọng . Chưa có một phong trào chính trị , hoặc xã hội để kích động tuổi trẻ , tuổi trẻ bồng bột hăng hái , mà một việc tức giận nho nhỏ cũng có thể bung lên thành một việc to lớn .
Một vụ “ xung đột “ sôi nổi như sau đây , giữa học trò và một bọn “ các chú “ trong thành phố , có thể biểu hiệu tinh thần chủng tộc đang tiềm tang trong đám thiếu niên thời bấy giờ .
Sau một kỳ nghỉ Hè , học sinh tấp nập đến các tiệm “ các chú “ mua giấy bút , mực v.v… Hầu hết các tiệm buôn lớn có đủ dụng cụ học sinh , cũng như các tạp hóa khác , đều là của “ khách trú “ . Người An Nam ít vốn chỉ buôn bán nhỏ thôi . Vì thế , có vài tiệm “ các chú “ thường hách dịch với khách hang , và hay ăn hiếp học sinh . Một em bé lớp tiểu học , độ 10 tuổi , đến tiệm Diêu Ký mua hai cuốn vở 100 trang . Người các chú có lẽ đông khách nên vội vàng lấy trao cho em hai quyển vở 50 trang . Em khờ khạo không xem kỹ , nhưng về nhà cha mẹ thấy sự lầm lẫn liền bảo con đến tiệm đổi lại . Người “ các chú “ không đổi , lại còn la mắng cậu học trò . Ðứa con nít sợ về nhà sẽ bị cha mẹ đánh , nên nhất định đòi cho được vở 100 trang , vì quả thật nó đã trả tiền theo giá vở 100 trang . Người “ các chú “ mắng nó là “ăn gian “ và đánh nó một bạt tai . Nó khóc thét lên . Vài cậu học trò lớn đứng chứng kiến sự cộc cằn hỗn láo của người Hoa-kiều , và lên tiếng bênh vực đứa nhỏ , liền bị tuị “ các chú “ chưỉ :” Người An lam ăn cắp à ! “ Chỉ một câu nói vô ý thức kia đã gây lên sự công phẫn của mấy cậu học trò và được truyền miệng đi khắp hết các đám học sinh trong thành phố . Thế rôì , do một nhóm bốn người học trò lớn xúi dục 7 giờ tối đêm hôm ấy trên 500 học trò cầm đá và củi , kéo đến ném tung các món ấy vào trong tiệm Diêu Ký , làm bể hết các tủ hang và gây thương tích cho tất cả trên 10 người các chú và á xẩm trong tiệm . Tuấn-em cũng có dự vào cuộc “ khích động “ này . Năm giờ chiêù nó đang chơi bắt còng ngoài bãi biển , bổng có một đứa bạn đi xe đạp ngang qua , bảo nó :” Mấy thằng các chú ở tiệm Diêu Ký chửi An nam là dân ăn cắp , tối nay tụi mình cầm củi và đá đi đánh cho chết cha tụi nó , mầy đi không ? “
Tuấn đang chơi , tức giận chạy ngay về nhà trọ . Dọc đường , nó hốt hai ba chục hòn đá xám của sở Lục-lộ dùng để lót đường , bỏ đầy nhóc hai tuí áo cụt . Nó ra sau nhà bếp lấy ba thanh củi thật to , đem để sẵn dưới bàn học với đống đá của nó . Bà chủ nhà trọ thấy thái độ khả nghi của Tuấn , hỏi :” Trò Tuấn làm chi mà lấy củi và đá bỏ một đống rứa ? “ Tuấn nói rõ cho cô chủ nghe , và tỏ vẻ tức giận mấy người khách trú lắm . Cô chủ la rầy Tuấn , nhưng chồng cô , thầy Thông Vinh Kho bạc , bảo :” Học trò , họ muốn đánh lộn với các chú thì mặc họ . Can cớ chi đến mình mà mình ngăn cản , hỉ ? “ . Trong thâm tâm , thầy Vinh cũng tán thành cuộc đả kích kẻ ngoại kiều dám xấc xược với người An Nam , tuy thầy không phải học trò nên không tham gia .
Còn bọn học trò , thì chỉ truyền miệng với nhau , chứ sự thật không có trò nào dám ra mặt chỉ huy trận “ chiến tranh đá “ này và không ai nghĩ đến hậu quả . Chỉ lo trả thù câu chửi rũa hỗn láo của mấy người khách trú ở tiệm Diêu Ký thế thôi . Chỉ nghĩ đến việc ném đá và quăng củi vào tiệm , cho “ chết cha tụi nó “ , để hả cơn tức vì câu nói “ người An lam ăn cắp “. Có thể gọi là sự bộc lộ “ tinh thần dân tộc “ , nhưng thật ra chỉ là sự bộc lộ cá tính bồng bột tự nhiên của tuổi trẻ, chứ chưa phải là một cuộc “ biểu tình “ có tổ chức , có kẻ chỉ huy , vì không có ai chỉ huy cả . Trò Tuấn , cũng như mấy trò khác , chạy đi đến các nhà trọ có bạn bè trú ngụ , kể chuyện mấy người khách trú đánh đứa học trò nhỏ lúc 12 giờ trưa , rồi rủ 7 giờ tối đi ném đá . Trong số 6oo học trò của nhà trường , có độ 100 trò không dám làm việc ấy , còn thì trò nào cũng tức tốc chạy đi kiếm đá , củi để đến 7 giờ tối đem quăng vào tiệm Diêu Ký cho hả cơn giận .
Chưa đến 7 giờ , Tuấn đã cầm ba thanh củi , và bỏ đầy đá xám trong hai túi áo cụt , đi tới tiệm Diêu Ký , ngay trước cổng chùa Quảng Ðông , và đã thấy có sáu bảy chục học trò tụ họp ngay đấy rồi . Một trò tự động đầu tiên ném vào tiệm hai, ba cục đá to bằng trái cà và hai thanh củi . Mấy trò khác bắt chước ném theo, đá và cuỉ tới tấp bay vào tiệm Diêu Ký như mưa , rôì tất cả bỏ chạy . Tuấn ném sau cùng trong lúc trong tiệm tụi “ khách trú “ chạy ùa ra rất đông , cầm củi và dao , quyết trả thù lại . Tuấn bỏ chạy trong lúc một bọn học trò trên vài chục đứa khác từ ngoài bờ song kéo vào tiếp tục xung kích vào mục phiêu “địch “ . Bọn học trò càng đông , tụi đã chạy rồi còn quay trở lại nữa với các cục đá và các cây củi xin ở các nhà An nam kế cận . Cuộc loạn đã kéo dài cho đến 10 giờ . Ðến 11,12 giờ , tiệm đã đóng cửa mà thỉnh thoảng cũng còn những cục đá to tướng ném chan chát vào hai cánh cửa , và trên mái ngói .
Cảnh sát ở đâu ? Cả thành phố to lớn như thế chỉ có 6 người “ lính phú lít “ , toàn là người An nam . Họ thay phiên nhau ba người ở sở để hầu hạ ông “ Cò “ Pháp , và túc trực ở văn phòng . Còn 3 ngươì được nghỉ ở nhà đi uống rượu đánh bạc . Thành phố rất yên ổn , không cần có “ phú lít “ . Bị học trò đánh và đánh nhau với học trò , mấy ngươì “ khách trú “ không dám đi thưa “ bót phú lít “ vì ban đêm họ không dám đến phá rầy quan Tây . Mãi 8 gio82 sáng hôm sau , chủ tiệm Diêu Ký cùng cả gia đình khách trú trên 10 ngươì bị u đầu , lỗ trán , chảy máu mắt , sưng mặt , sưng mũi , gãy răng , rách áo , rách quần , kéo đến sở Cò . Họ còn khệ nệ bưng theo bốn chai rượu chat đỏ , một bịch thuốc Méllia và 20 hộp sữa Nestlé để “ kỉnh quan lớn “ nhờ quan lớn xử giùm , monmg “đèn trời soi sáng “ cho họ được nhờ vì họ bị bọn “ học trò nhà nước đánh phá tan hoang hết cửa tiệm .
Ông Cò nhận các đồ lễ , rồi điềm nhiên bảo họ cứ đi về buôn bán , ông sẽ xử cho .Tất cả đều cúi khòm lưng vái chào cảm ơn quan lớn . Ông Cò làm bản tường trình đem lên ông Sứ ( chính thức là quan Công Sứ ) ông Sứ chuyển giấy sang ông Ðốc học , cũng người Pháp .
Ông Ðốc cho gọi vài cậu học trò lớn lên phòng giấy , để hỏi về cụ đánh các chú đêm vừa qua . Các trò đồng thanh trả lời :
-Monsieur le Directeur, ces Chinois sont des voleurs. ( Thưa ông Ðốc , mấy người Hoa kiều ấy là bọn ăn cắp ) . Ils volent les élèves ( chúng nó cướp tiền của học trò ) .
Ông Ðốc cũng tường trình lên ông Sứ :
- Monsieur le Résident , les Chinois sont des voleurs , Ils volent mes élèves .( Thưa Quan Công Sứ , Hoa kiều là tụi ăn cắp . Chúng nó cướp tiền học trò tôi ) .
Bảy hôm sau , ông Cò gửi trát đòi chủ tiệm Diêu Ký lên hầu . Ông thân ái khuyên bảo người Hoa-kiều :
- Từ nay không nên ăn cướp tiền của học trò . Chúng nó sẽ không phá phách cửa tiệm của mầy nữa đâu ( người Pháp thời bấy giờ vẫn khinh khi người Hoa-kiều , và gọi họ bằng “ mầy “ , ít khi họ gọi “ anh “ hay “ông “ .
Qủa thật , vụ “ chiến tranh đá và củi “ năm 1924 không tái diễn nữa .
Sau vụ này , Tuấn –em sung sướng khoe với các bạn là nó đã ném một cục đá trúng kêu cái “đóp “ vào đầu một chị xẩm , tại chị này đứng trước cửa xăn quần lên đến đầu gối , chưỉ lũ học trò :” Mẹ tổ cha mấy đứa học trò A lam à ! “ .
Ngoài vụ đánh phá tiệm Diêu Ký , bình nhật “ học trò An-nam “ vẫn hiền lành như đất cục , ngày tháng chăm lo học hành .
Thiểu số dăm bảy cậu thỉnh thoảng được đọc thường xuyên và không dám nói lại cho nhiều người nghe những bài văn thơ “ kinh thiên động địa “ mà các cậu đã được đọc , từ nghìn xa lén lút trao về .
Nhưng đó là những món ăn tinh thần nghiền ngẫm mãi trong tiềm thức , thấm nhuần trong đầu óc , bổ dưỡng cho suy tư , để rồi có cơ hội thuận tiện là bộc phát lên như dậy men , như bùng lửa , như sôi máu , sôi gan…
__________________
************************************************** ***********


Chương 27




1920 - 1924


- Trước 1925 danh từ “ Việt-Nam “ chưa được thông dụng trong dân chúng.
- Nước gọi là An Nam, Dân gọi là người An Nam, hoặc là Annamite ( theo tiếng Pháp ) .
- Ða số "Thượng lưu trí thức Nam kỳ “ nhập tịch dân Pháp, theo đạo Thiên Chúa, và sống theo Tây.
- Hoàng thân Lào, Sinh Viên Cao Ðẳng Công chính Hà Nội, tên là Souphanouvong, lấy vợ An-Nam ở Nha Trang ( Nay là lãnh tụ Pathet Lào ).
- Nhiều tỉnh Bắc, Trung Kỳ chưa có đèn điện .
- Dư luận xôn xao về vụ một ông Quan Ba tàu thủy Pháp cho học trò nhiều tiền để đánh ông trên đường đèo, đêm vắng.
- Một ông Giám-binh Tây, đi kinh lý, ở ngủ lại ban đêm trong làng .
Trước 1925, hay nói cho đúng là trước tháng 7-1925, hồi cụ Phan bội Châu chưa bị Tây bắt tại Thượng Hải đưa về Hà Nội, danh từ "Việt Nam" chưa được phổ thông trong dân chúng, và chưa được chính thức áp dụng ở xứ ta . Trên các công văn, báo chí, sách vở bằng chữ Pháp cũng như chữ Quốc-ngữ không mấy khi dùng đến hai tiếng "Việt-Nam".
Bên Nam triều, theo quốc hiệu đã được sửa đổi từ thời vua Minh-Mạng, các giới quan trường và trên các giấy tờ chính thức, đều dùng hai chữ “Ðại-Nam “. Vua An-Nam được xưng hô là Ðại Nam Hoàng Ðế.
Các nhà trí thức, khiêm nhường hơn, thường viết là “ Nước Nam “, hoặc “ Nam Quốc “, còn dân chúng, từ Nam chí Bắc, lại quen dùng danh từ đã có sẵn từ nghìn xưa, do chính người Tàu ban bố cho, là “ nước An-Nam “ . Người Tàu gọi người Việt là Ố-nàm-dàn(An nam nhân) . Ở Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Khắc Hiếu, chủ trương một tờ báo văn nghệ, lấy tên là An Nam Tạp Chí . Ở Saigon, ký giả tài ba xuất chúng là Nguyễn Phan Long điều khiển một tờ báo viết bằng Pháp-ngữ, lấy tên là Echo Annamite.
Riêng ở Nam kỳ, phần đông các giới “ thượng lưu trí thức “, và các nhà kỹ nghệ, thương mại, đại điền chủ ở Saigon và Lục tỉnh, lại không thích người ta gọi mình là "Annamites” . Ða số đã xin vô "dân Tây “, sống theo lối Tây, và hãnh diện được gọi là "Citoyens Français “ ( công dân Pháp ) . Ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, trái lại, hạng “An Nam dân Tây “ rất hiếm . Ngay những người thân Pháp nhất, triệt để trung thành với Pháp, nhà văn như Phạm Quỳnh, quan lại cao cấp như Hoàng Trọng Phu, ViVăn Ðịnh, Tôn-Thất Hân, Thái văn Toản, v.v…đều giữ nguyên quốc tịch An-Nam .
Về tiếng xưng hô địa danh của ba miền, tuy người Pháp đã đặt riêng ra ba tên khác nhau : le Tonkin ( Bắc-Kỳ ) -- người là les Tonkinois ; L’Annam ( Trung Kỳ ), người là les Annamites du Centre; la Cochinchine ( Nam Kỳ ), người là les Cochinchinois, nhưng tiếng An – nam và Annamites vẫn thông dụng hơn, từ Nam chí Bắc . Ở Hà nội, Hải phòng, cũng như ở Huế, Qui nhơn, Saigon, Cần thơ, Châu đốc dân chúng vẫn quen gọi với nhau là “ người An-nam “ và nói : hàng hóa Annam, ngày An-nam, các quan An-nam, tiệm buôn An-nam, ngày Tết An-nam, v.v…
Chính những người có học thức cũng quen nói như thế trừ những nhà làm cách mạng mà thôi . Những người bình dân ở Saigon và Lục tỉnh, không học Ðịa dư, thường gọi từ Nha Trang trở ra là “ xứ Bắc “, hoặc là “ xứ Huế “,” xứ Nghệ “ . Ít khi họ phân biệt là miền Bắc, miền Trung . Thỉnh thoảng họ gọi bằng một danh từ châm biếm và khôi hài là “ dân trọ trẹ “ . Tại vì tiếng nói từ Nha Trang trở vào Phan Thiết, cũng na-ná như tiếng miền Nam, còn từ Qui-nhơn trở ra Nghệ An, Hà Nội, giọng nói hơi nặng, người miền Nam nghe khó hiểu.
Người miền Trung lại gọi Nam Kỳ là đất "Ðồng Nai Gia Ðịnh “ . Người bình dân miền Bắc thỉnh thoảng lại gọi Nam Kỳ là “ xứ ở gần mặt trời".
Cho đến năm 1932, đường hỏa xa từ Hà nội vào Trung Kỳ chỉ mới tới Tourane, mà người Việt gọi là Cửa Hàn ( nay là Ðà Nẳng ) . Ðường xe lửa từ Saigon ra, cũng chỉ đến Nha Trang, nơi đây là ga cuối .
Tại Nha Trang năm 1924, có một khách sạn khá lớn ở ngay trước ga xe lửa, mà chủ nhân người An-nam, đặt tên là Hotel Terminus ( Khách sạn Cuối ) . Ông chủ Hotel, có một cô con gái khá đẹp và rất lãng mạn, tên là Kỳ Nam .
Vào khoảng 1937, có một cậu sinh viên trường Cao Đẳng Công Chính Hà nội là một Hoàng tử Lào, nhân dịp nghỉ hè, đi nghỉ mát ở Nha Trang . Cậu sinh viên Hoàng tử đến trọ tại "Khách sạn Cuối “ và được dịp làm quen với cô Kỳ Nam, con gái ông chủ . Ðối với cậu Hoàng tử Lào lúc bấy giờ, lấy được một “ tiểu thư Annam “ làm vợ là cả một vinh dự lớn lao .
Ðối với cô thiếu nữ lãng mạn ở Nha Trang, lấy một người chồng là Hoàng tử, mặc dầu là Hoàng tử Lào, và không đẹp trai, cũng là một hạnh phúc thần tiên . Thế là cuộc tình duyên thơ mộng đã kết cuộc bằng một đám cưới vô cùng long trọng . Ðôi vợ chồng Việt – Lào đó hiện nay vẫn còn sống và cậu sinh viên Hoàng Tử Lào lúc bấy giờ chính là Souvanna Souphanouvong, lãnh tụ Pathet Lào hiện nay .
1924, nhiều tỉnh chưa có đèn điện, tuy là những thành phố lớn vào hạng ba, hạng tư, ở toàn xứ An nam . Ðường phố vẫn còn thắp đèn acétylène cháy nhờ hơi đá carbure, đựng trong một bình bằng đồng, lồng trong bốn mặt kiếng, trên cột sắt sơn đen và chạm trổ rất đẹp . Thường có những con thằn lằn to lớn không biết từ đâu bò lên trên mặt kiếng để đớp những con thiêu thân . Hình bóng những con thằn lằn ấy ngã xiêng xuống mặt đường, lúc hiện ra nằm dài trên đường lộ, lúc rút lại trong bóng tối, như những bóng ma . Nhất là trong những đêm mưa gió và ở các ngã tư vắng vẻ những “bóng ma" ấy thường làm cho những học trò nhút nhát ghê rợn không dám đi qua.
Trừ ba thủ đô Saigon, Huế, Hà Nội, và các thị trấn quan trọng như Nam Ðịnh, Hải Phòng, Vinh, Tourane, Cần Thơ, v.v…, còn hầu hết ở các thành thị khác, đường phố không có tên, và không có số nhà . Dân chúng thường gọi theo những tên địa phương mà không ai đặt ra nhưng moị người đều biết, như : đường Lò Heo, đường Lò Vôi, đường Bờ Sông, đường Cống Kiều, đường Nhà Thờ, đường Miễu Cô hồn v.v…
Tuy thế, trong mỗi tỉnh, đường nào ở đâu, nhà nào ở đâu, nhà ai, ở xóm nào, mấy anh cu li xe kéo đều biết hết . Vì đường phố hãy còn ít, nhà cửa chưa đông đúc, đất trống còn nhiều, kỹ nghệ chưa thành hình, thương mãi của người An nam gần như không đáng kể .
Hầu hết các hiệu buôn bán lớn là của "các chú “, của “ Chà và “ của “ Ma la bà “ ( Chà và là Java – Nam Dương ; Malabar : gốc Ấn Ðộ ) . Các hãng xuất nhập cảng là của người Tàu, hoặc Pháp, An nam chỉ đành phận bé nhỏ, nghèo hèn, với những tiệm cúp tóc đơn sơ, tiệm thợ may ( hai ngành này phát triển nhất ) thuốc Nam, thuốc Bắc, hoặc tạp hóa nho nhỏ . Thỉnh thoảng xen vào một vài tiệm người Bắc, chuyên môn bán đồ đồng ( mâm, lư, đèn ) và một ít lụa Hà Ðông .
Trừ một vài đại lộ đã trải nhựa goudron để cho xe hơi chạy, nhất là xe các quan, còn thì hầu hết các đường phố đều lồi lõm, chổ u, chổ đột, sạn đá gồ ghề, mỗi lần mưa to là nước chảy như đường mương, khe suối .
Cứ chiều chiều, tan giờ học, Tuấn thường ưa đi dạo xem các dãy phố, các tiệm buôn, các nhà cửa vườn tược, chùa miếu ở khắp hang cùng ngỏ hẻm . Tính tò mò, chỗ nào cũng muốn đến, việc gì cũng muốn thấy, chuyện gì cũng muốn nghe, cậu học trò 15 tuổi mặc áo dài đen vá nơi cùi chỏ, mang đôi guốc cùn ba xu, đi lang thang khắp phố, khắp phường .
Gặp các ông giáo, nhất là ông giáo sư Vật Lý học và Hóa Học, cậu vội vàng chạy trốn . Ông này người Huế, mặt nhiều mụn, cái miệng hay dô ra, cặp mắt sáng quắc, thường đi xe máy . Tốt nghiệp Trường Cao Ðẳng Hà nội, ông rất giỏi về Lý-Hóa, nhưng cũng rất nghiêm khắc với học trò . Ðã ba lần rồi, buổi chiều gặp Tuấn đi chơi ngoài phố, là sáng hôm sau giờ Vật-lý hay Hóa, ông gọi Tuấn lên trả bài . Luôn luôn ông cho Tuấn ăn hột vịt . Một buổi chiều chủ nhất, ông trông thấy Tuấn nằm chơi một mình trên bãi biển Gành Ráng, sáng thứ hai ông kêu Tuấn lên trả bài . Trò Tuấn ở nhà học thuộc bài vanh vách, nhưng không biết tại sao khi vào lớp, đứng trước mặt giáo sư trò quên tất cả . Ông giáo thưởng cho trò một con zéro bự rồi trừng mắt nói với cả lớp :
-Ce cancre ne sait jamais ses leçons, parce qu’il s’ amuse tout le temps avec les cancres ( Thằng học trò lười biếng ấy không bao giờ thuộc bài bởi vì nó chơi cả ngày với mấy con cua biển ) .
Do lối “ chơi chữ “ của ông Giáo sư, vì chữ cancre có hai nghĩa, mà bạn bè trong lớp gọi đùa Tuấn là “ con cua biển “ ( hay là thằng lười biếng, theo nghĩa thứ hai ) .
Một buổi tối, Tuấn nằm trên bãi cát, nghe tiếng sóng hòa nhịp với tiếng reo vi vu của rặng cây phi lao trên Cầu Tàu . Ngoài khơi, có chiếc tàu Orénoque của Tây đậu cạnh hải đăng . Ông quan ba với mấy người thủy thủ chèo chiếc tam bản ( tây gọi là sampan ) vào cặp bến . Mấy người thủy thủ lên bờ, đi bách bộ vào thành phố, vừa đi vừa hát om sòm . Bãi bể tối om, xa xa có một ánh đèn đá lắt leo trong gío lộng . Tuấn ngạc nhiên thấy ông quan Ba đến gần cậu .Tuấn không lo sợ gì, vì cậu đã biết nói tiếng Tây, sẵn sàng đối đáp. Ông quan Ba vuốt tóc cậu . Và khẽ nói với giọng rất hiền hòa :
- Bonsoir, mon enfant
Tuấn bạo dạn đáp lại, với giọng con nít :
- Bonsoir, monsieur…
Ông quan Ba lấy trong túi ra một gói sô-cô-la cho Tuấn, và bảo Tuấn đưa ông đi dạo phố . Lần đầu tiên Tuấn được đi chơi với ông Tây, -- lại là ông quan Ba tàu thủy, -- nói chuyện với ông thân ái và tin cậy như một người bạn lớn tuổi . Dọc đường, ông bảo Tuấn rủ thêm bốn đứa bạn nữa cùng đi cho vui . Ông nói :"Tôi rất yêu thanh niên An nam “. Tất cả có bốn đứa bu theo bên ông đều là bạn học của Tuấn, được ông cho kẹo, cho thuốc hút, cho nhiều tấm hình cartes postales in các thắng cảnh bên Tây rất đẹp . Rồi ông đề nghị :” các em đưa tôi đến một nơi nào thật hoang vắng, ngoài châu thành, nơi không có người qua lại . Ngồi chỗ vắng như thế, chúng ta sẽ xem trăng, xem sao, và nói chuyện thú hơn “ . Tuấn và bốn đứa bạn hăng hái đưa ông lên chân núi Xuân Quang, nơi đây không một bóng người, không một túp nhà, cách xa thành phố 2 kí lô mét .
Sau khi tất cả đều ngồi xung quanh ông, trên một bãi cỏ, nghe ông kể chuyện bên Tây, một lúc thật vui, ông quan Ba cười bảo: ”Bây giờ các em sẽ xem tôi bày ra một trò chơi rất lý thú nhé “ . Cả bọn nôn nao vui mừng . Ông lấy một đồng bạc đưa Tuấn, bảo:"Em xuống phố mua chừng 5 thước dây dừa thứ lớn và thật chắc, 9 hoặc 10 cây roi mây, hoặc roi tre, hay là những khúc củi dài cũng được, và 100grammes ớt thứ thật cay, với 100 grammes muối “ . Tuấn hơi lo ngại hỏi :” Trò chơi gì mà phải dùng các món đó ? “Ông quan Ba cười, nụ cười hiền lành đáng tin cậy :
- Em cứ đi tìm các món đó về đây, rồi các em xem tôi làm trò chơi này hấp dẫn lắm .
Tuấn và một đứa bạn theo lệnh ông vội vàng chạy về phố tìm mua một bọc ớt, mốt gói muối, và năm cuộn dây dừa . Còn roi thì các trò không biết mua ở đâu, bèn bảo nhau nhổ đại mấy cây tre cắm hang rào của một căn nhà trống ngoại ô .
Khi Tuấn trở lại núi Xuân Quang với đủ các đồ"chơi" kia, ông quan Ba vui vẻ bảo :” Các em lột hết quần áo của tôi ra, lấy dây dừa cột hai tay hai chân của tôi lại,và trói chặt nhé, và đè tôi nằm xuống đất, đừng cho tôi quẫy cựa . Rồi các em thay phiên nhau mỗi người cầm một cây roi tre đánh vào mông đít tôi . Phải đánh thật dữ tợn . Các em đánh tôi như đánh một kẻ thù, vừa đánh vừa chửi, và đánh thật mạnh, đừng sợ tôi đau . Ðánh mãi chừng nào gãy nát hết mấy cây roi, và đánh sao cho nổi lằn trên đít tôi, cho rơm rớm máu …Nhưng các em nhớ rằng chỉ đánh trên mông đít, đừng đánh trên lưng hay trên đầu, hay các chỗ khác trên thân thể tôi . Ðánh trên mông cho chảy máu rồi gĩa muối ớt cho thật nhỏ, chà xát trên những chỗ lằn roi rớm máu ấy . Xong rồi tôi sẽ thưởng cho mấy em mỗi đứa 2 đồng bạc .
Hai đồng bạc thời bấy giờ giá trị hơn 200 đồng ngày nay . Tuấn và bốn đứa bạn do dự, không đứa nào dám làm công việc lạ lùng ấy mà các trò không hiểu tại sao . Nhưng ông Tây quan Ba cứ năn nỉ, van lơn, và đưa trước cho mỗi trò hai đồng bạc . Sau cùng, Tuấn bảo các bạn :” Tuị mình cứ làm như lời ổng dặn, nếu có xẩy ra việc gì thì chạy trốn . Trời tối, đêm vắng, núi hoang, sợ cóc gì, hè ! “
Nhưng Tuấn hỏi ông quan Ba :
- Chơi trò chơi chi mà kỳ cục thế hả ông ?
Ông Quan Ba mỉm cười đáp :
- Các em làm cái việc ấy xong, rôì tôi kể chuyện cho nghe . Chuyện hay lắm .
- Tụi tôi đánh ông, rôì ông có đánh lại tụi tui không ?
Ông quan Ba cười :
- Không, tôi là Quan Ba Tàu Thủy, tôi không phỉnh gạt các em đâu .
- Lỡ đánh ông rôì tụi tui bị lính bắt bỏ tù thì sao ?
- Nơi đây vắng vẻ, có ai biết đâu ? Chính tôi đề nghị cái trò chơi ấy cơ mà ! Nào ! Bây giờ các em xúm lại lột quần áo của tôi ra đi . Chúng ta bắt đầu cuộc chơi rất hấp dẫn say mê này . Nào ! Các em ra tay đi !
Tuấn cưòi bảo mấy đứa bạn cùng xáp vào thi hành “ trò chơi “ ly kỳ, bí mật, mặc dầu chưa biết kết cuộc sẽ như thế nào .
Ðể kích thích sự can đảm của năm thiếu niên Annam, ông Quan Ba tự cởi hết áo quần ra .
Tuấn lấy sợi giây dừa, cùng bốn đứa bạn bắt đầu trói tay trói chưn ông Tây …Nói đúng ra năm cậu con nít này đều có cảm tưởng đang làm một việc động trời, cho nên trò nào cùng còn sợ sệt ngại ngùng . Ai mà khi không dám cầm roi quất vào mông đít một ông Tây ? Lại là ông Tây quan Ba ? Nhưng ngẫu nhiên được cơ hội đánh Tây, Tuấn tỏ ra hăng hái nhất . Tuy rằng cậu không có thù oán gì ông Tây quan Ba này, trái lại, từ lúc mới gặo cho đến bây giờ, cậu và bốn đứa bạn đều kính mến ông và được hân hạnh chơi thân với ông, nhưng sẳn “ trò chơi “ kỳ quái và nguy hiểm này chính ông Tây bày đặt ra, và chính ông van lơn, năn nỉ các trò đánh đập ông. Tuấn bổng nhiên cảm thấy từ trong thâm tâm nổi dậy sự vui thích dã man được đánh một ông Tây cho thỏa lòng “ái quốc hận thù “. Ðó là ảnh hưởng đột ngột và đầu tiên của những bài thơ ái quôc mà cậu đã đọc lén trong hai tờ báo bí mật “ Việt Nam Hồn “ và “ Le Paria “ .
Sự “ căm thù “ hoàn toàn vô ý thức, vì không lý do gì cả đối với cá nhân ông Tây Quan Ba rất hiền lành tử tế kia nhưng Tuấn sung sướng được dịp cầm roi quất trót, trót ! … thật mạnh, thật đau, trên hai mông đít trần truồng của ông Tây, vừa chửi đã đời, vừa đánh đã đời :” Tổ cha thằng Tây ! Tao oánh cho chết mày ! Sao mầy qua lấy nước tao ?... Sao mầy bắt bỏ tù vua Duy-Tân của nước An Nam ?...Mẹ cha mầy !... "
Thật là một cơ hội hy hữu, vừa là một dịp đầu tiên trong đời trẻ con của các cậu học trò trường Tây được đánh một ông Tây ! Tuấn đánh nhiều hơn cả, liên tiếp ba cây roi tre đều dập nát hết . Rôì đến phiên ba trò kia cũng thi nhau mà đánh, mà chửi, một trò không dám đánh mạnh, một trò vừa đánh vừa cười . Ông Tây vẫn nằm yên, sắp mặt xuống đất, tay chân bị trói chặt bằng mấy vòng dây dừa to bằng ngón chân cái . Theo đúng lời căn dặn của “ khổ chủ “ năm trò đánh nát cả chục cây roi tre, để trên hai mông của ông chằng chịt những lằn roi rướm máu, rồi gĩa muối thật cay để xát vào những lằn máu kia . Quái lạ làm sao ! Ông Tây vẫn nằm yên, không hề tỏ vẻ gì đau đớn cả, và không kêu la một tiếng . Nhưng khi năm bàn tay học trò xát mạnh muối ớt lên những lằn roi ứa máu, thì tụi này nghe ông bắt đầu rên rĩ … Ông rên rĩ một giọng khoái trá, một giọng đê mê …như tiếng mèo đực ôm ghì lấy mèo cái trong đêm khuya trên mái nhà .
Năm đứa học trò An nam không hiểu cái lối “ chơi “ gì lạ lùng quái gở của ông Tây .
Nửa giờ sau, “ cuộc chơi “ chấm dứt. Mười cây roi tre đã dập gãy xác xơ, nắm muối ớt chà xát trên mông ông Tây cũng đã hết rồi . Ông nằm rên một lúc khá lâu, mắt nhắm riết gần mười phút đồng hồ, không quẫy cựa .Năm cậu học trò ngồi xuống đất, hồi hộp đợi xem .
Tuấn khẽ bảo mấy đứa bạn :
- Nè, nếu ổng ngồi dậy la làng xóm, thì tụi mình chạy trốn hết nhé . Ðứa nào đứa nấy lẻn về nhà nằm . Sáng mai đừng đi ra phố mà cũng đừng nói gì cho ai biết chuyện nầy, tụi bay nghe ?
Tất cả đều băn khoăn lo sợ . Trò Tuấn sợ nhất, vì chính trò cầm đầu vụ này và trò đánh ông Tây hăng hái nhất .
Ông Tây mở mắt mỉm cười, tuy nụ cười hơi mệt nhọc . Ông nói chậm rãi, uể oải, nhưng giọng nói thoải mái :
-Ah, mes enfants ! C’est bien ! C’est très bien ! Merci ! Merci ! (À, các con ơi, Giỏi lắm ! Giỏi tuyệt ! Cảm ơn …cảm ơn …)
Ông bảo tiếp :
-Maintenant, délivrez-moi de cette corde de coco .(Nào, bây giờ các con hãy cởi hộ cái dây dừa ra cho ta ) .
Năm đứa học trò xúm lại mở dây trói ra cho ông rôì ông lấy áo quần mặc vào . Ông móc túi áo lấy cho thêm mỗi đứa 2 đồng bạc, vừa nói lâm râm trong miệng :
- Merci ! Merci ! ( Cảm ơn ! Cảm ơn ! )
Ông và lũ học trò kéo nhau xuống thành phố . Dọc đường, Tuấn hỏi cuộc “ chơi “ lạ ấy có ý nghĩa gì, và ở bên nước Tây người ta thích chơi kiểu đó làm sao?
Ông Tây mỉm cười đáp :
- Ðó là một lối chơi riêng của người Âu-châu, nhưng chỉ có số ít người thôi, nhất là những người ở Hải quân, vì họ đi ngoài biển tháng này qua tháng nọ ít được tiếp xúc với đàn bà …nhưng các con đừng nói lại chuyện này cho ai biết nhé !
Mấy cậu học trò vẫn chưa hiểu gì cả, và ông Quan Ba thuyền trưởng chiếc tàu Orénoque, cũng không nói thêm câu nào nữa . Hình như ông mắc cỡ, cho nên gặp chiếc xe kéo bánh cao su đáng đi lang thang kiếm khách, rung lạc leng keng …leng keng, ông Quan Ba vội vàng nhẩy lên xe bảo chạy ra bãi biển .
Mấy hôm sau, chiếc Orénoque đã rời bến đi mất rồi . Tuấn mới dám đem chuyện đánh ông Tây Quan Ba ra thuật lại cho một vài vị giáo sư nghe và nhờ quý vị giải thích dùm cho …Nhưng t

bài nguyễn vỹ :tuấn, chàng trai đất viêt.( phần 25 ,26 & 27) được đăng bởi: Người_Saigon với tựa đề nguyen vy :tuan, chang trai dat viet.( phan 25 ,26 & 27) tại forum, các bạn có thế tham gia vào forum để có thể viết bài nhé

 

truyen cuoi theo van

Vần: < tất cả> A  B  C  D  E  F  G  H  I  J  K  L  M  N  O  P  Q  R  S  T  U  V  W  X  Y  Z 

ads

module block ngaunhien

Các Nữ Thần Dưới  Trướng Cờ Hai Nà Trưng
Các Nữ Thần Dưới Trướng Cờ Hai Nà Trưng

Các Nữ Thần Dưới Trướng Cờ Hai Bà Trưng
1303
Gồm: Ngọc Phượng Công Chúa, Khâu Ni Công Chúa, Bà Chúa Bầu, Đệ Bát


Tuấn, chàng trai đất Việt
Tuấn, chàng trai đất Việt
Tuấn, chàng trai đất Việt


Chương 18





Một buổi sáng thứ ba, Tuấn-em đang ngồi chăm chỉ nghe thầy giáo lớp Năm giảng


II. Nhà Thục (257 - 208 trước Công Nguyên) Năm Mươi Năm
II. Nhà Thục (257 - 208 trước Công Nguyên) Năm Mươi Năm
II. Nhà Thục (257 - 208 trước Công Nguyên) Năm Mươi Năm, Quốc Hiệu Âu Lạc, Kinh Ðô Phong Khê (Cổ Loa, Ðông Anh, Hà Nội)

Thục Phán thủ lĩnh của người


Giai thọai cha ông : Cao Bá Quát
Giai thọai cha ông : Cao Bá Quát
- Cao Bá Quát (Chu Thần, 1808-1855), nhân vật văn chương quán thế và anh hùng thời đại nửa đầu thế kỷ XIX, quê làng Phú Thị, Gia Lâm, Kinh Bắc (ngoại thành Hà


IV. Thời Kỳ Ðấu Tranh Chống Phong Kiến  Bắc Ðô Hộ
IV. Thời Kỳ Ðấu Tranh Chống Phong Kiến Bắc Ðô Hộ
IV. Thời Kỳ Ðấu Tranh Chống Phong Kiến PChương Bắc Ðô Hộ Lần Thứ Nhất (207T - 39) 246 Năm

Nhà Hán chia Giao Chỉ bộ ra làm chín quận:

1. Nam


Cà Phê Saigon Ngày Xưa
Cà Phê Saigon Ngày Xưa
Cà Phê Sàigòn Ngày Xưa
Cà phê vốn cùng đi với con đường lịch sử.
Hồi xửa hồi xưa . . . có một Sàigòn người ta gọi cà phê là “cà phe”, đi


IX. Thời Kỳ Xây Dựng Nền Tự Chủ (905-938):
IX. Thời Kỳ Xây Dựng Nền Tự Chủ (905-938):
1. Khúc Thừa Dụ (905-907):
Khúc Thừa Dụ quê ở Cúc Bồ (Ninh Thanh, Hải Dương), vốn là một tay hào phú, tính khoan hòa, được nhân dân kính phục. Thấy nhân


Tượng Phật Quan Âm
Tượng Phật Quan Âm
Bài được JimmyLy sửa lúc 2012-3-21 10:11

32 bảo tượng Bồ tát Quán Thế Âm tại Việt Nam.